QUI ĐỊNH Về việc thu tiền lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề - kinh doanh- dịch vụ, giấy phép sử dụng máy chuyên ngành VHTT, hoạt động VHNT, giám định nội dung V.H.P xuất nhập khẩu Văn hoá phẩm Thực hiện Quyết định số: 276/CT ngày 28/7/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về thống nhất quản lý các phí, lệ phí, Thông tư số: 48/TC-TCT ngày 28/9/1992 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành quyết định 276/ HĐBT; Thông tư Liên bộ Tài chính cấp giấy phép xuất, nhập khẩu phi mậu dịch và mậu dịch; Thực hiện Chỉ thị số: 01/CT-UB ngày 2/1/1993 của UBND thành phố Hải Phòng về việc thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí
Căn cứ tình hình thực tế của công tác quản lý và giám định nội dung văn hoá thông tin. Sở Tài chính cục thuế Sở VHTT thành phố qui định việc thu lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề, kinh doanh, dịch vụ, giấy phép sử dụng máy chuyên ngành VHTT, hoạt động văn hoá nghệ thuật, giám định nội dung văn hoá phẩm cấp giấy phép xuất, nhập khẩu văn hoá phẩm mậu dịch và phi mậu dịch, I- ĐỐI TƯỢNG NỘP LỆ PHÍ 1- Tất cả các tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức nước ngoài và người nước ngoài) có văn hoá phẩm xuất, nhập khẩu thuộc loại phải có giấy phép của Sở VHTT, hoặc phải qua giám định nội dung của cơ quan, văn hóa để được cấp giấy phép, đều phải nộp lệ phí cho cơ quan sở VHTT thực hiện giám định nội dung VHP để cấp giấy phép xuất, nhập khẩu - kể cả mậu dịch và phi mậu dịch. 2- Nộp lệ phí giấy chứng nhận hành nghề thuộc ngành VHTT quản lý, kinh doanh, dịch vụ, hoạt động quảng cáo, hoạt động văn hoá nghệ thuật, triển lãm, xuất bản nhất thời, đọc duyệt các tài liệu, báo chí, xuất bản phẩm, văn hóa phẩm băng nhạc, phim điện ảnh – băng hình… phải qua giám định nội dung. 3- Nộp lệ phí cấp giấy phép đăng ký sử dụng các loại máy móc chuyên ngànhVHTT quản lý theo qui định của Nhà nước. 4- Nộp lệ phí quản lý ngành, đối với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ loại hình đặc biệt, đặc doanh thuộc ngành VHTT quản lý theo quy định. II- MỨC THU LỆ PHÍ Mức thu lệ phí cấp giấy phép, ngành đặc doanh, giám định nội dung văn hoá phẩm v.v…như nêu ở trên (1 đối tượng nộp lệ phí) được qui định cụ thể trong phụ lục đính kiềm văn bản này. III- THỦ TỤC NỘP VÀ PHÂN PHỐI SỬ DỤNG LỆ PHÍ 1- Thủ tục nộp lệ phí: Lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề, giấy phép các loại, giám định nội dung văn hoá phẩm, lệ phí quản lý ngành đặc doanh như trên, là khoản thu của ngân sách Nhà nước, Sở VHTT trực tiếp tổ chức thu, kể cả văn hoá phẩm xuất và nhập khẩu phi mậu dịch và mậu dịch. - Thu phí phải sử dụng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính (cục thuế) phát hành. Ngành VHTT là cơ quan thu và chịu trách nhiệm quản lý theo đúng các chế độ do Bộ Tài chính qui định, phải mở sổ sách kế toán theo dõi riêng khoản thu lệ phí này. - Hàng tháng, quí, năm, sở VHTT, phòng VHTT quận, huyện, thị xã phải báo cáo quyết toán (theo mẫu thống nhất - mẫu số 02) nộp ngân sách và sử dụng điều lệ phí trước để lại, chậm nhất 5 ngày đầu của tháng sau, quí sau, năm sau với cơ quan thuế cùng cấp. Mười ngày (10) một lần cơ quan VHTT phải đem các cuống biên lai đã thu để cơ quan thuế kiểm tra, thanh toán, làm các thủ tục trích lệ phí được để lại cho cơ quan VHTT theo qui định của thông tư liên bộ số: 83 TT/LB ngày 16/12/1992. Trước khi thu lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề, hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các đối tượng hoạt động thuộc ngành VHTT quản lý các đối tượng này phải được cơ quan thuế xác nhận đã nộp đầy đủ các loại thuế, lệ phí vào ngân sách Nhà nước. 2- Phân phối sử dụng lệ phí: Kinh phí thu được không lớn, để đảm bảo yêu cầu công tác một cách chủ động, sở VHTT được giữ lại 50% dùng để khen thưởng cho những người trực tiếp thực hiện công tác thu, nhưng mức thưởng một năm không quá 6 tháng (sáu tháng) lương cơ bản và phụ cấp lương theo chế độ hiện hành ( bao gồm phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại, phụ cấp nghề nghiệp…nếu có) bổ sung kinh phí hoạt động của các ngành; 35% dùng bổ sung kinh phí, sửa chữa nhỏ, đột xuất, các phương tiện giám định và trả công khi phải thuê các giám định viên và chi phí nghiệp vụ quản lý VHTT.Nếu dùng không hết trong năm, phải nộp ngân sách Nhà nước, tại kho bạc - mục 35, chương, loại, khoản, hạng tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước, thời hạn nộp theo qui định của ngành thuế. Trường hợp có nhu cầu chi phí lớn, Sở VHTT phải lập dự trữ để sở tài chính duyệt cấp phát.Trừ truờng hợp phát sinh đột xuất những chi phí không lớn (đã sử dụng hết 35% số kinh phí để lại; như nêu ở trên, vẫn không đủ) của sở Tài chính và cục thuế về mức để lại, sở VHTT mới được sử dụng. Việc mua sắm trang thiết bị, phuơng tiện phục vụ công tác chuyên môn, sở VHTT cũng phải làm dự trù với sở Tài chính để
xét duyệt do ngân sách Nhà nước cấp theo dự toán. Do đó hàng năm sở VHTT phải lập dự trù kinh phí chung của công tác quản lý VHTT. Cơ quan thu lệ phí phải báo cáo quyết toán với cơ quan thuế cung cấp về biên lai thu tiền - số lệ phí đã thu, đã nộp vào ngân sách nhà nước, và việc sử dụng số tiền đựơc trích lại. Cục thuế thành phố có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc cơ quan có giám định nội dung văn hoá phẩm xuất, nhập khẩu phải nộp lệ phí theo đúng quyết định của Nhà nước. 3- Thay đổi mức thu: Khi thay đổi mức thu về lệ phí ( ngoài mức liên hệ đã quy định trong thông tư 82) ba cơ quan sở Tài chính, sở VHTT, cục thuế phải trao đổi thống nhất bằng văn bản, được UBND thành phố duyệt chuẩn y mới được thi hành. Trước khi thực hiện theo mức lệ phí mới, ngành VHTT phải thanh toán biên lai và điều lệ phí đã thu theo quy định trước đây với ngành thuế. Cấp huyện, quận, thị xã, phòng VHTT được vận dụng khoản thu lệ phí cấp giấy chứng nhận hành nghề kinh doanh, dịch vụ VHTT theo sự phân cấp của sở VHTT.
Phần trích số tiền lệ phí thu được để chi có thể thực hiện như mục 2, phần III nêu ở trên, nếu trích tỉ lệ % cao hơn phải báo cáo với UBND cùng cấp và có sự thoả thuận của cơ quan thuế mới được thực hiện.