QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt Phương án đ ổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/ 2003
Căn cứ Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010;
Căn cứ Nghị Quyết số 02-NQ/TW ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về việc ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt Phương án đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 (có Phương án chi tiết kèm theo).
Điều 2
Tổ chức thực hiện
1. Các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan theo chức năng quản lý và nhiệm vụ được phân công trong Phương án, xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện các nội dung của Phương án. Định kỳ 6 tháng và một năm, các sở, ngành; UBND các huyện, thành phố trong tỉnh báo cáo kết quả thực hiện với UBND tỉnh thông qua Sở Công Thương.
2. Sở Công Thương có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện, chủ động tham mưu, đề xuất các biện pháp để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Phương án.
Điều 3
Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các sở: Công Thương, Xây dựng, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Lao động Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; các doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Thủ trưởng các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Đàm Văn Bông
PHƯƠNG ÁN
Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng
trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1887/QĐ-UBND,
ngày 20 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Hà Giang)
I. CĂN CỨ PHÁP LÝ
Căn cứ Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12, ngày 17/11/2010 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030;
Căn cứ Nghị định số 15/2012/NĐ-CP, ngày 9/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản;
Căn cứ Quyết định số 159/2008/QĐ-TTg, ngày 4/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”;
Căn cứ Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản;
Căn cứ Quyết định số 1402/QĐ-UBND, ngày 17/7/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang v/v phê duyệt đề án phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh Hà Giang đến năm 2015.
II. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
1. Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản của tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản hết sức đa dạng và phong phú cả về kim loại và phi kim loại. Trong đó có những loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao là sắt, chì - kẽm, Mangan, Antimon…Theo tài liệu địa chất và khoáng sản, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xác định được 215 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng sản với 28 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó 4 loại khoáng sản trọng điểm là: Quặng sắt (21 mỏ, điểm mỏ); quặng chì, kẽm (16 mỏ, điểm mỏ); quặng Mangan (27 mỏ, điểm mỏ) và quặng Antimon. Ngoài ra, còn nhiều loại khoáng sản khác có tiềm năng về giá trị kinh tế như: Đới vàng sông Con; đới vàng ngòi Sảo và đới vàng, Arsen chứa thiếc - vàng Sông Lô; mỏ thiếc - Vonfram Hố Quáng Phìn (huyện Đồng Văn); mỏ Antimon Bó Mới (huyện Yên Minh)…..Kết quả đánh giá, thăm dò khoáng sản trên địa bàn tỉnh cho thấy có nhiều mỏ có trữ lượng hàng triệu tấn, chất lượng cao như mỏ Antimon Mậu Duệ (huyện Yên Minh) có trữ lượng 330.000 tấn, mỏ sắt Sàng Thần (huyện Bắc Mê) trữ lượng 31,86 triệu tấn, mỏ quặng sắt Tùng Bá trữ lượng 22,0 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Na Sơn (huyện Vị Xuyên) trữ lượng 1,6 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Tà Pan (huyện Bắc Mê) trữ lượng 1,2 triệu tấn; dải quặng Mangan: Đồng Tâm, Trung Thành, Ngọc Linh, Ngọc Minh có tổng trữ lượng tài nguyên hơn 5,0 triệu tấn và nhiều khoáng sản quý hiếm khác như thiếc, Vonfram, vàng sa khoáng, nguyên liệu dùng cho công nghệ gốm sứ cao cấp như Kaolin, Felspat...
2. Thực trạng hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trong thời gian qua, các hoạt động đầu tư vào khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang có sự tăng trưởng khá, không ngừng phát triển cả về quy mô và số lượng, với sự tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Các dự án khai thác, chế biến khoáng sản đi vào hoạt động đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giải quyết được nhiều việc làm và thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng nâng cao dần tỷ trọng sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ.
Đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang nhiều nhà đầu tư đã và đang đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Nhà máy luyện Antimon của công ty CP Cơ khí và Khoáng sản Hà Giang công suất 1.000 tấn/năm, nhà máy thiêu bột Antimon của công ty TNHH Bảo An công suất 600 tấn/năm và nhà máy luyện Antimon của HTX tiểu thủ công 3 - 2 Mèo Vạc công suất 70 tấn/năm, nhà máy luyện Antimon của công ty CP khoáng sản quốc tế VCC công suất 1.000 tấn/năm. Ngoài ra, tỉnh đã cho chủ trương xây dựng nhà máy luyện gang, thép công suất 500.000 tấn/năm, đang đầu tư xây dựng 02 nhà máy luyện Feromangan và Silicomangan tại khu công nghiệp Bình Vàng với tổng công suất luyện 40.000 tấn/năm... các dự án đã xây dựng hoàn thành hoặc có chủ trương xây dựng đều có nguồn nguyên liệu đảm bảo các nhà máy hoạt động với thời gian trên 20 năm.
Đến hết tháng 12/2010, toàn tỉnh có 54 dự án khai thác, chế biến khoáng sản với 5 loại khoáng sản: Mangan, chì - kẽm, sắt, Antimon, Mica. Số dự án khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 44 dự án, với tổng mức đầu tư là 1.788,52 tỷ đồng.
Tổng sản lượng nguyên khai và tinh quặng các loại khoáng sản kim loại do khai thác, chế biến được trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến hết năm 2010 là hơn 750.000 tấn. Tổng doanh thu trong năm 2010 (chỉ tính riêng đối với khoáng sản kim loại) đã đạt hơn 175 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 38 tỷ đồng và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương ở các vùng sâu, vùng xa.
3. Thực trạng về công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang
3.1. Công nghệ khai thác khoáng sản
Công nghệ khai thác trên địa bàn tỉnh Hà Giang là khai thác hầm lò (khai thác chì - kẽm, vàng); lộ thiên (khai thác Mangan, Mica, thiếc - vonfram) và khai thác hầm lò kết hợp với lộ thiên (sắt).
Về công nghệ khai thác phần lớn mang tính chất thủ công, bán cơ giới, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của những công nhân lành nghề và các chuyên gia Trung Quốc.
Máy móc, thiết bị áp dụng trong quá trình khai thác chủ yếu là máy móc cũ lạc hậu, công suất khai thác thực tế thấp hơn so với công suất thiết kế.
Trong quá trình khai thác chưa tuân thủ theo thiết kế cơ sở đã được thẩm định dẫn đến sản lượng khai thác còn thấp và chưa ổn định, gây ô nhiễm môi trường.
3.2. Công nghệ chế biến
Quặng sắt chủ yếu sử dụng phương pháp tuyển từ kết hợp với tuyển trọng lực.
Quặng chì - kẽm sử dụng phương pháp tuyển nổi.
Quặng Mangan, Mica, Antimon chủ yếu sử dụng phương pháp tuyển trọng lực, quặng vàng sử dụng phương pháp tuyển trọng lực kết hợp với tuyển nổi.
Về công nghệ luyện kim hiện tại có 02 nhà máy luyện Feromangan sử dụng công nghệ lò điện hồ quang kiểu bán kín, dự kiến đi vào hoạt động cuối năm 2012 và 01 nhà máy luyện Antimon sử dụng phương pháp thiêu kết.
Thiết bị chế biến khoáng sản phần lớn còn lạc hậu, ít được đổi mới; công suất khai thác thực tế đa phần thấp hơn so với công suất thiết kế, sản lượng khai thác hàng năm không ổn định, chất lượng sản phẩm thấp, chưa chú trọng công tác chế biến sâu nhằm nâng giá trị khoáng sản, sản phẩm chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô .
4. Những hạn chế, yếu kém
Việc cấp phép khai thác, chế biến cho nhiều doanh nghiệp cùng khai thác, chế biến trên một đơn vị hành chính xã đã xảy ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, việc đầu tư trở nên nhỏ lẻ, manh mún, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn lao động, ô nhiễm môi trường.
Hầu hết các doanh nghiệp được cấp giấy phép khai thác khoáng sản chưa có đội ngũ cán bộ có trình độ, chuyên môn về lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản dẫn đến việc điều hành sản xuất không theo đúng quy trình, quy phạm, hoạt động của mỏ hiệu quả không cao. Nhiều doanh nghiệp phải tìm đến đối tác Trung Quốc để liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư.
Do tài liệu địa chất không đầy đủ (các doanh nghiệp phần lớn ít quan tâm đầu tư cho công tác thăm dò khoáng sản) nên khi được cấp phép khai thác, còn lúng túng, không định hướng được việc đầu tư công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng mỏ.
Việc cấp giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản chưa gắn với yêu cầu sản xuất ra đến sản phẩm cuối cùng, do đó sản phẩm của các doanh nghiệp chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, giá trị sản phẩm không cao, không ổn định.
Đa số các mỏ chưa được áp dụng công nghệ tiên tiến vào khai thác, chế biến khoáng sản. Do vậy trong quá trình hoạt động đã có những thời điểm ô nhiễm vượt quá mức cho phép, chưa khai thác triệt để tài nguyên gây tổn thất lớn trong quá trình khai thác, chế biến, sản phẩm chế biến chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, chưa làm tăng giá trị của sản phẩm sau chế biến.
Các mỏ, điểm mỏ đều phân bố ở vùng sâu vùng xa, kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư, giao thông đi lại khó khăn đã ảnh hưởng nhiều đến tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản mỏ.
Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản vẫn còn mang tính phân tán, chưa phát huy sức mạnh của hợp tác liên doanh, liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành khai khoáng chưa được quan tâm đúng mức, đội ngũ cán bộ hiện nay còn nhiều bất cập, thiếu nhiều so với yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Nhận thức và chấp hành các quy định về hoạt động khai thác, chế biến của các doanh nghiệp còn hạn chế.
Cơ chế chính sách tài chính về khoáng sản chưa tạo đòn bẩy phát triển ngành khai khoáng, chưa có cơ chế thu từ khai thác khoáng sản phù hợp. Nguồn thu của nhà nước từ hoạt động khoáng sản chưa tương xứng với kết quả đã khai thác; vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản thì nhân dân bị mất đất canh tác, dẫn đến hiện tượng nghèo hoá, ô nhiễm môi trường tăng cao, đường giao thông hư hỏng nhanh, vv..
Tình trạng gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn lao động trong hoạt động sản xuất. Đặc biệt tại các doanh nghiệp thăm dò, khai thác khoáng sản, có quy mô nhỏ, trung bình, chưa đủ sức chế biến sâu.
Do ảnh hưởng của lạm phát và sự suy giảm nền kinh tế thế giới và Việt Nam nói chung, tỉnh Hà Giang nói riêng, tình hình biến động giá cả của vật tư vật liệu xây dựng đã làm ảnh hưởng hầu hết đến tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng của các dự án.
Tiến độ triển khai quy hoạch chi tiết và xây dựng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn chậm. Công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng nhiều dự án chưa đáp ứng tiến độ của nhà đầu tư.
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cấp tỉnh, cấp huyện và các ngành liên quan với các doanh nghiệp còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ, dẫn đến việc triển khai các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách bị hạn chế, chậm được triển khai trong thực tiễn, làm chậm quá trình đầu tư các dự án.
Bộ máy quản lý về công nghiệp của cấp tỉnh và cấp huyện còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực quản lý kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ. Lực lượng lao động quản lý doanh nghiệp, quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế, lao động có kỹ thuật chưa được chú trọng đào tạo cơ bản làm giảm khả năng huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp.
III. QUAN ĐIỂM,
MỤC TIÊU
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu cụ thể
Chương trình “Phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản” thuộc Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020.