NGHỊ QUYẾT Phê duyệt đề án điều trị nghiện ma túy tự nguyện không thu phí tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU KHÓA VI, KỲ HỌP THỨ BA
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy ngày 09 tháng 12 năm 2000 và Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh;
Căn cứ Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ;
Xét Tờ trình số 177/TTr-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đề nghị phê duyệt đề án điều trị cai nghiện ma túy tự nguyện không thu phí tại cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh; Báo cáo thẩm tra số 172/BC-VHXH ngày 30 tháng 11 năm 2016 của Ban Văn hóa-Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Phê duyệt đề án điều trị cai nghiện ma túy tự nguyện không thu phí tại cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh theo nội dung Tờ trình số 177/TTr-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh (kèm theo Đề án chi tiết), với các nội dung chính sau:
1. Phạm vi điều chỉnh của Đề án: Tiếp nhận điều trị phục hồi, giáo dục, dạy nghề cho 200 (hai trăm) người nghiện ma túy tự nguyện không thu phí tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh.
2. Đối tượng điều chỉnh của Đề án:
Người nghiện ma túy tự nguyện thuộc gia đình có công với cách mạng; bảo trợ xã hội; không còn thân nhân; thuộc gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo của tỉnh; thuộc đồng bào dân tộc thiểu số; có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn, bản thân là lao động chính trong gia đình được xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú dài hạn (KT3) tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
3. Thời gian điều trị: Từ 06 tháng đến 12 tháng.
4. Thời gian thực hiện đề án: Giai đoạn 2017 - 2020.
5. Nguồn kinh phí thực hiện: Ngân sách tỉnh, dự toán tổng kinh phí thực hiện là 3.918.000.000 đồng (Ba tỷ, chín trăm mười tám triệu đồng).
Điều 2
Giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Khóa VI, Kỳ họp thứ Ba thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 19 tháng 12 năm 2016./.
CHỦ TỊCH
Nguyễn Hồng Lĩnh
ĐỀ ÁN
Điều trị nghiện ma túy tự nguyện không thu phí tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 71/2016/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2016 của
Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Phần I
Phần II
MỤC TIÊU.
Điều 1 Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26/7/2011 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.
2. Người cai nghiện ma túy tự nguyện có trách nhiệm:
a) Khai báo chính xác về tình trạng nghiện ma túy của bản thân;
b) Tuân thủ quy chế, nội quy và chịu sự quản lý, giáo dục của Cơ sở; thực hiện chế độ lao động, học tập, điều trị theo các quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp người cai nghiện ma túy vi phạm quy chế, nội quy của Cơ sở thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý bằng một trong các hình thức dưới đây:
Nhắc nhở, phê bình. Đưa vào phòng cách ly.
Chấm dứt điều trị nghiện và thông báo về địa phương.
c) Trường hợp gây thiệt hại vật chất của Cơ sở, người cai nghiện tự nguyện ma túy hoặc gia đình, người giám hộ phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
d) Có trách nhiệm bảo quản tài sản của Cơ sở. Tuyệt đối không vi phạm pháp luật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật nếu có hành vi: thẩm lậu ma túy, sử dụng ma túy, hủy hoại thân thể, trộm cắp, phá hoạt tài sản, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, rủ rê kích động học viên khác vi phạm nội quy.
VI. QUY TRÌNH TỔ CHỨC CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN.
Cơ sở tổ chức tiếp nhận, phân loại cắt cơn, điều trị, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Thông tư liên tịch số 41/2010/TTLT/BLĐTBXH-BYT ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quy trình cai nghiện cho người nghiện ma túy tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện. Với 5 giai đoạn (gồm Giai đoạn tiếp nhận, phân loại; Giai đoạn cắt cơn giải độc, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội; Giai đoạn tư vấn, giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách; Giai đoạn lao động trị liệu, hướng nghiệp; Giai đoạn phòng, chống tái nghiện, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng).
VII. PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO ĐỀ ÁN.
1. Cơ sở vật chất:
Không tiến hành xây dựng mới cơ sở vật chất mà sử dụng khu cai nghiện tự nguyện hiện có của Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy bao gồm các hạng mục công trình sau:
Khu nhà ở cho học viên: gồm 03 dãy nhà cao hai tầng với tổng diện tích là 2.466m2 với 24 phòng ở, 03 phòng sinh hoạt cộng đồng, 03 phòng quản lý, sức chứa khoảng 200 học viên được trang bị các dụng cụ phục vụ sinh hoạt, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí hàng ngày bao gồm ti vi, đầu máy, cassette..
Khu học nghề: có phòng học lý thuyết và thực hành với tổng diện tích là 387m2 và các trang thiết bị dạy nghề phù hợp;
Khu vui chơi giải trí: được trang bị một số trang thiết bị phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí và rèn luyện sức khỏe cho học viên như: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, thư viện, phòng tập thể dục thể thao, phòng đọc sách, hội trường, chiếu phim...;
Các khu này có tường rào bao quanh, cách ly hoàn toàn với khu cai nghiện bắt buộc và các khu khác của Cơ sở.
2. Nguồn cán bộ, nhân viên phục vụ đề án : Sử dụng số biên chế hiện nay được giao của Cơ sở (120 cán bộ nhân viên) đáp ứng đủ nhu cầu thực hiện các hoạt động của Đề án. Đồng thời, tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn về y tế, tư vấn, tâm lý xã hội, phòng ngừa tái nghiện để phục vụ học viên.
VIII. VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH, KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN.
1. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% cho người nghiện ma túy tự nguyện tham gia điều trị nghiện ma túy theo chế độ của học viên cai nghiện bắt buộc tại Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08/10/2014 cua Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng, để hỗ trợ cho người tự nguyện tham gia điều trị nghiện ma túy.
2. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án: Từ nguồn ngân sách tỉnh, dự toán tổng kinh phí thực hiện là: 3.918.000.000đồng (Ba tỷ, chín trăm mươi tám triệu đồng) gồm: Dự toán kinh phí thực hiện điều trị cho 200 học viên là: 3.909.000.000 đồng (Ba tỷ, chín trăm linh chín triệu đồng); dự toán kinh phí xây dựng và hoàn thiện Đề án là 9.000.000đồng (Chín triệu đồng chẵn).
Trường hợp gia đình người cai nghiện tự nguyện đóng góp để nâng cao chất lượng điều trị và nuôi dưỡng, thì gia đình và Cơ sở thỏa thuận trên cơ sở các định mức được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Trường hợp người nghiện ma túy tự nguyện (có thu phí) đang được điều trị tại Cơ sở nếu thuộc đối tượng của Đề án (sau khi Nghị quyết có hiệu lực) sẽ được miễn phí theo nội dung Đề án.
IX. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN.
Khích lệ người nghiện ma túy tự nguyện tham gia điều trị nghiện ma túy; tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiện và gia đình tiếp cận các dịch vụ cai nghiện ma túy, giúp người nghiện có cơ hội từ bỏ ma túy. Nhằm giải quyết tình trạng người sử dụng trái phép chất ma túy tiêm chích công khai nơi công cộng, tại cộng đồng dân cư, gây bức xúc trong dư luận, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm hạn chế phát sinh người nghiện mới và gia tăng sự lây nhiễm HIV/AIDS ngoài cộng đồng và các tệ nạn xã hội khác trên địa bàn tỉnh.
Làm thay đổi nhận thức của người tham gia điều trị, cùng với các ban, ngành chức năng và cả cộng đồng trong công tác hỗ trợ, giúp đỡ điều trị nghiện ma túy.
Phát huy lợi thế về cơ sở vật chất, tránh tình trạng lãng phí, xuống cấp của các công trình đã được đầu tư, xây dựng.
Tiết kiệm được kinh phí, thủ tục trong quá trình đưa đi cai nghiện ma túy./.