UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Số: 290/QĐ-UBND CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hải Phòng, ngày 21 tháng 02 năm 2008 QUYẾT ĐỊNH Về việc ban hành cơ chế quản lý, sử dụng nguồn kinh phí tạm ứng từ ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp giai đoạn 2008-2010 ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 03/4/1996 và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ngân sách nhà nước ngày 01/6/1998;
Căn cứ Công văn số 40/CV-TTHĐND ngày 07/02/2007 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc tạm ứng vốn cho Công ty cổ phần Vật tư nông nghiệp và xây dựng Hải Phòng mua phân bón bán cho nông dân theo phương thức trả chậm với lãi suất thấp;
Theo đề nghị của Liên Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tài chính tại Tờ trình số 166/TTr-NN-TC ngày 31/01/2008 về việc ban hành cơ chế quản lý, sử dụng nguồn kinh phí tạm ứng từ ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp giai đoạn 2008-2010, QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1
Ban hành Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn kinh phí tạm ứng từ ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp giai đoạn 2008-2010 (có nội dung cụ thể kèm theo).
Điều 2
Giao Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, giám sát thực hiện, đảm bảo hiệu quả, đúng chính sách, pháp luật của nhà nước.
Điều 3 . Các ông (bà): Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Tài chính, Hội Nông dân thành phố, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, xã; Giám đốc Công ty cổ phần Vật tư nông nghiệp và xây dựng Hải Phòng; Thủ trưởng các ngành, các cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Thành
Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn kinh phí tạm ứng từ ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp giai đoạn 2008-2010
( Ban hành kèm theo Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 21 tháng 2 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng)
I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Mục đích, yêu cầu:
1. Chủ trương của Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố cho phép tạm ứng từ nguồn ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp là chính sách hỗ trợ một phần chi phí sản xuất trực tiếp cho người nông dân, nhằm giúp các hộ nông dân giảm một phần khó khăn và khuyến khích nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; đồng thời thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo.
2. Việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo công khai, dân chủ và đảm bảo lợi ích kinh tế đến trực tiếp người nông dân. Các ngành Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ chức năng nhiệm vụ chuyên ngành có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện.
Điều 2
Nguyên tắc chung:
1. Về giá bán , Liên Sở Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm kiểm soát, xác định giá bán cho nông dân không được cao hơn giá thị trường.
2. Về tạm ứng vốn từ nguồn ngân sách, cung ứng phân bón, thanh quyết toán:
a) Hàng năm, căn cứ kết quả thực hiện năm trước, nhu cầu cung ứng phân bón cho nông dân và khả năng cung ứng của doanh nghiệp, doanh nghiệp được giao chủ động xây dựng kế hoạch tạm ứng từ ngân sách thành phố để mua phân bón bán hỗ trợ cho nông dân theo phương thức trả chậm và thanh toán với nông dân theo lãi suất thấp, báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố (qua Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) để phê duyệt và cấp kinh phí.
b) Doanh nghiệp được giao có trách nhiệm cung ứng phân bón cho nông dân từ đầu vụ, đến cuối vụ thu hoạch thu tiền và tính lãi suất theo mức 0,15%/tháng. Thời gian tính lãi suất từ khi nhận phân bón (tính từ thời điểm thành phố tạm ứng tiền cho doanh nghiệp) đến khi thanh toán tiền. Quy trình trên được thực hiện 2 lần trong năm tương ứng với 2 vụ sản xuất nông nghiệp.
(Đối với lượng phân bón người nông dân nhận trước khi thành phố tạm ứng tiền cho doanh nghiệp, nông dân phải trả theo lãi suất thoả thuận với doanh nghiệp).
c) Sổ sách kế toán của doanh nghiệp phản ánh việc mua bán hàng hoá, tiền vận chuyển, tiền dịch vụ được hưởng, lãi suất và tiến độ thu chi tiền hàng, công nợ phải thu phải trả... đối với khoản tạm ứng và cho thanh toán chậm trả trên phải được hạch toán riêng thể hiện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và lợi ích mang lại cho người nông dân, bảo toàn số vốn nhận tạm ứng và hoàn trả Ngân sách đúng thời gian quy định. Trong trường hợp có số lỗ phát sinh, doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trong kết quả kinh doanh của mình.
3. Về chế độ báo cáo : Sau khi kết thúc vụ mùa hàng năm, doanh nghiệp có trách nhiệm lập báo cáo về việc tạm ứng và thanh quyết toán với nông dân trong năm, trong đó nêu rõ những địa phương có nông dân còn nợ đọng tiền phân bón, tiền lãi suất để có kế hoạch thu hồi công nợ và kế hoạch phân bổ tiếp chỉ tiêu vụ sau.
II. CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 3
Điều kiện, thủ tục thực hiện việc mua bán phân bón theo phương thức trả chậm với lãi suất thấp.
1. Điều kiện ký hợp đồng:
Các HTX dịch vụ có bộ máy quản lý chỉ đạo thống nhất, có tín nhiệm trong dịch vụ nông nghiệp, có khả năng thanh toán.
Những địa phương HTX dịch vụ không làm hoặc không đủ điều kiện làm dịch vụ, nông dân có nguyện vọng mua vật tư thì Hội Nông dân cơ sở thông qua Hội Nông dân huyện đăng ký, ký hợp đồng mua phân bón;
2. Thủ tục:
Đơn xin mua vật tư chậm trả của các hộ nông dân, có chữ ký của các thành viên tham gia sản xuất trong gia đình.
Đơn xin mua vật tư chậm trả của Hội Nông dân, Hợp tác xã ghi rõ kế hoạch sản xuất, số lượng chủng loại phân bón, cam kết thanh toán và kèm bảng kê các hộ nông dân đăng ký mua phân bón chậm trả, có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân huyện, Hội Nông dân, Phòng Nông nghiệp huyện.
Giấy giới thiệu của Uỷ ban nhân dân xã với doanh nghiệp;
Điều 4
Trách nhiệm của các ngành, cấp, các tổ chức, doanh nghiệp:
1.Trách nhiệm của doanh nghiệp:
Chuẩn bị đủ lượng phân bón các loại, ký hợp đồng kinh tế mua bán với Hợp tác xã, Hội Nông dân, thôn tổ...theo pháp luật về hợp đồng kinh tế.
Các điều khoản của hợp đồng kinh tế phải cụ thể về số lượng, chất lượng, chủng loại phân bón, giá cả, phương thức giao nhận, thời hạn thanh toán, trách nhiệm và quyền lợi các bên, nêu rõ:
+ Giá trị vật tư phân bón (bao gồm cả thuế GTGT);
+ Tiền vận chuyển thu hộ chi hộ;
+ Tiền dịch vụ được hưởng của HTX, Hội Nông dân;
+ Tiền lãi phải trả = 0,15%/tháng x giá trị hàng hoá x thời gian chậm trả;
Nhận tạm ứng vốn từ ngân sách thành phố để mua phân bón. Thanh toán phí dịch vụ cho Hợp tác xã, Hội Nông dân theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng, thu tiền thanh toán hoàn trả ngân sách đúng hạn.
Cung ứng phân bón đảm bảo chất lượng, chủng loại, bao bì; thời gian, địa điểm giao hàng thuận tiện cho các hộ nông dân tại Hợp tác xã, Hội nông dân cơ sở.
Phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân thành phố để tổ chức thực hiện.
2. Trách nhiệm của các hộ nông dân mua phân bón chậm trả:
Phải có đơn mua xin mua vật tư phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp với lãi suất thấp. Nội dung ghi rõ số lượng, chủng loại phân bón, thời gian nhận, cam kết sử dụng đúng mục đích và thanh toán đúng kỳ hạn cả tiền gốc và tiền lãi. Đơn phải có chữ ký của cả hai vợ chồng, ghi rõ họ tên, có xác nhận của Trưởng thôn và Uỷ ban nhân dân xã.
3 . Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, Hợp tác xã, Hội Nông dân các cấp:
Tuyên truyền, thông báo công khai về chính sách mua phân bón chậm trả đến các hộ nông dân tại địa phương.
Thẩm tra đơn và thống kê danh sách các hộ nông dân xin mua phân bón.
Thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản của hợp đồng kinh tế.
Tổ chức cho hộ nông dân nhận phân bón để sản xuất, không được sử dụng sang mục đích khác.
Lập danh sách từng hộ nông dân thực nhận phân bón có đủ chữ ký của từng hộ.
Thanh toán theo hợp đồng, nếu quá hạn không thanh toán phải chịu thanh toán theo lãi suất ngân hàng tại thời điểm và coi là vi phạm hợp đồng.
Phí dịch vụ được hưởng:
+ Phí dịch vụ được hưởng từ 1,5 - 1,7%/tổng số tiền dịch vụ.
+ Nếu phí dịch vụ cao hơn thì Hợp tác xã, Hội Nông dân thoả thuận, thống nhất với các hộ nông dân.
4. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các huyện, quận, Hội Nông dân thành phố:
Xét duyệt, lựa chọn những Hợp tác xã, xã, Hội nông dân cơ sở có đủ điều kiện để giới thiệu và xác nhận việc ký hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp.
Kiểm tra giám sát việc sử dụng phân bón đã nhận vào sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, Hợp tác xã, Hội nông dân cơ sở.
Chỉ đạo Hợp tác xã, Hội Nông dân cơ sở thực hiện đúng các điều đã cam kết trong hợp đồng.
Có biện pháp xử lý với những xã, Hợp tác xã, Hội Nông dân cơ sở không thanh toán sòng phẳng, kéo dài dẫn đến công nợ.
5. Trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính:
Giám sát việc triển khai thực hiện cơ chế trên tại doanh nghiệp và cơ sở.
Giám sát về giá cả, đảm bảo giá bán không được cao hơn giá bán lẻ thị trường tại thời điểm cung ứng.
Thu tiền về ngân sách trước thời gian kết thúc năm kế hoạch.
Chỉ đạo doanh nghiệp được giao nhiệm vụ cung ứng phân bón theo phương thức trả chậm chuẩn bị tốt mạng lưới kho tàng từ thành phố đến huyện xã, bố trí đội ngũ cán bộ chuyên làm dịch vụ vật tư nông nghiệp tích cực phối hơp với các Hợp tác xã nông nghiệp, các cấp Hội Nông dân để tổ chức thực hiện./.