QUYẾT ĐỊNH Ban hành đề án “quản lý nuôi trồng thủy sản nước lợ theo hướng dựa vào cộng đồng tại Quảng Nam đến năm 2015 ” ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày 08/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình NTTS đến năm 2010;
Căn cứ Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển và hải đảo;
Căn cứ Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”;
Căn cứ Quyết định số 2855/QĐ-UBND ngày 12/09/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt “Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”;
Căn cứ
Căn cứ Nghị quyết 82/2007/NQ-HĐND ngày 25/4/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh về tiếp tục phát triển kinh tế thủy sản Quảng Nam giai đoạn 2007-2010;
Xét đề nghị của Sở Nông nghiệp &PTNT tại tờ tình số: 109/TTr-NN&PTNT ngày 24 tháng 3 năm 2009,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Nay ban hành kèm theo Quyết định này Đề án “Quản lý nuôi trồng thủy sản nước lợ theo hướng dựa vào cộng đồng tại Quảng Nam đến năm 2015”.
Điều 2
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở Nông nghiệp &PTNT, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An căn cứ quyết định thi hành.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Quang
ĐỀ ÁN
Quản lý nuôi trồng thủy sản nước lợ theo hướng dựa vào cộng đồng tại Quảng Nam đến năm 2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2009/QĐ-UBND
ngày 21 / 4 /2009 của UBND tỉnh Quảng Nam)
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Nuôi thủy sản nước lợ tại Quảng Nam tập trung ở 6 huyện, thành phố ven biển, dọc theo các sông chính: Trường Giang, Thu Bồn và Tam Kỳ. Diện tích nuôi thủy sản nước lợ năm 2005 trên toàn tỉnh khoảng 2.500 ha, trong đó nuôi tôm sú chiếm trên 95% diện tích, còn lại là nuôi các đối tượng khác. Đến năm 2007, diện tích nuôi thủy sản nước lợ còn 2.400 ha và đến năm 2008, diện tích giảm xuống chỉ còn khoảng 2.000 ha. Một trong những nguyên nhân làm giảm diện tích nuôi thủy sản nước lợ là do môi trường nuôi tôm sú bị thoái hoá, xuống cấp nên một số nông hộ không đầu tư nuôi tiếp; mặt khác, một số ao nuôi bị ảnh hưởng do qui hoạch của các ngành kinh tế khác nên đã làm giảm diện tích nuôi thủy sản nước lợ.
Tuy nhiên, từ năm 2007, 2008; những hộ có điều kiện về kinh tế đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, từ 200 ha nuôi năm 2006, đến năm 2008 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 880 ha, tổng sản lượng NTTS nước lợ đạt 8.500 tấn, đạt 243% kế hoạch năm và doanh thu khoảng 397 tỷ đồng.
Tổng số hộ tham gia vào nuôi tôm nước lợ hiện có khoảng 6.700 hộ với diện tích ao nuôi trung bình từ 3.000 - 4.000 m 2 /hộ. Những năm qua, nghề nuôi tôm nước lợ đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho cư dân ven sông, ven biển và có rất nhiều hộ giàu lên từ nghề nuôi thủy sản nước lợ, bộ mặt nông thôn ven biển ngày càng có sự thay đổi rõ rệt.
Song, quá trình phát triển nuôi tôm phần nhiều có tính tự phát, vấn đề lấy và xả nước trong thời gian nuôi phần nhiều là mạnh ai nấy làm, việc tranh chấp giữa các nông hộ trong quá trình sản xuất còn xảy ra. Khi ao có tôm nuôi bị dịch bệnh, những nông hộ thường tự ý thải nước ra môi trường bên ngoài mà chưa được xử lý, ...do đó, nguy cơ lây lan dịch bệnh rất dễ xảy ra đối với tôm nuôi.
Một thực tế hiện nay là những người nuôi tôm của tỉnh Quảng Nam đang gặp nhiều thách thức, đó là:
Giá trị con tôm sú ngày càng giảm;
Giá sản phẩm đầu vào tăng cao;
Chất lượng nguồn nước trong các ao nuôi ngày càng khó kiểm soát;
Bệnh đối với tôm nuôi thường xuyên xuất hiện;
Thị trường tiêu thụ yêu cầu tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm ngày càng nghiêm ngặt hơn.
Những thách thức trên ảnh hưởng rất lớn đến những người nuôi qui mô nhỏ vì họ thường hạn chế về kỹ thuật nuôi và các nguồn lực (tiền, đất đai, thông tin, cơ sở hạ tầng ao nuôi chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật…), đặc biệt là giá bán sản phẩm thường thấp hơn đối những người nuôi với quy mô lớn. Do vậy, để giải quyết các khó khăn này đối với người nuôi tôm thì họ phải làm việc, tổ chức sản xuất theo quản lý dựa vào cộng đồng để nâng cao sức mạnh trong việc mua và bán sản phẩm, quản lý môi trường ao nuôi, vùng nuôi tốt hơn, giảm rủi ro và đảm bảo an toàn sản phẩm. Do vậy, xây dựng đề án nuôi thủy sản nước lợ theo hướng quản lý dựa vào cộng đồng là vô cùng cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới và hội nhập.
PHẦN I:
Chương trình công tác và
Chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của UBND tỉnh.
PHẦN II
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NỘI DUNG, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NUÔI THỦY SẢN NƯỚC LỢ THEO HƯỚNG QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CỦA ĐỀ ÁN:
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu cụ thể: