QUYẾT ĐỊNH Về việc áp dụng một số biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn người đi xuất khẩu lao động bỏ trốn ra ngoài UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003
Căn cứ Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 107/2003/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 07/11/2003 của Liên Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính đối với người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Văn bản số 134/TT-LĐTBXH ngày 24/2/2005,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Áp dụng tạm thời một số biện pháp nhằm ngăn chặn người đi xuất khẩu lao động bỏ trốn ra ngoài như sau:
1. Người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài phải có bản cam kết thực hiện nghiêm pháp luật của Nhà nước Việt Nam và pháp luật nước sở tại, không tự ý bỏ hợp đồng trốn ra ngoài (có ý kiến của bố, mẹ, vợ hoặc chồng) được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú xác nhận.
2. Doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động phải thỏa thuận với người lao động thực hiện một trong các biện pháp: Ký quỹ, bảo lãnh, cầm cố, thế chấp. Việc thực hiện thỏa thuận: Ký quỹ, bảo lãnh, cầm cố, thế chấp, phạt vi phạm cần được ghi rõ trong hợp đồng của doanh nghiệp ký với người đi xuất khẩu lao động và tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự. Người lao động bỏ trốn áp dụng mức phạt vi phạm cao nhất theo quy định của pháp luật.
3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người đi xuất khẩu lao động vừa có giá trị để thế chấp vay vốn tại ngân hàng (hoặc quỹ tín dụng nhân dân), vừa có giá trị thế chấp tại doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động. Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động các huyện, thành, thị chỉ đạo ký thỏa thuận cam kết 3 bên giữa doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động, ngân hàng (hoặc quỹ tín dụng nhân dân) với người đi xuất khẩu lao động đảm bảo thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn (trả nợ gốc và lãi) và đảm bảo bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm khi người lao động bỏ trốn.
Sau khi người lao động đã hoàn trả đủ nợ gốc và lãi thì ngân hàng (hoặc quỹ tín dụng nhân dân) chuyển Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động giữ (có biên bản bàn giao cụ thể).
Đối với tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đem bảo lãnh sẽ được doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động trả lại cho người lao động khi hoàn thành hợp đồng về nước hoặc người đi xuất khẩu lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm ăn bất hợp pháp trở về nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động.
Trường hợp người lao động được người thứ 3 bảo lãnh việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn thì người lao động phải thỏa thuận với người đã bảo lãnh để thực hiện bảo lãnh thêm cho việc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm khi bỏ trốn ra ngoài.
Điều 2
Nếu người lao động tự bỏ trốn ra ngoài, ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành còn bị xử lý như sau:
Thông báo công khai danh sách lao động trốn trên báo Phú Thọ, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Đài truyền thanh của địa phương (ít nhất 03 lần); đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (nơi người lao động cư trú trước khi đi xuất khẩu lao động).
Không giới thiệu và không xác nhận vào hồ sơ lý lịch đi xuất khẩu lao động cho những người trong gia đình có lao động bỏ trốn ra ngoài.
Điều 3
Giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (cơ quan thường trực Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động tỉnh) có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Quyết định này.
Điều 4
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.