CHỈ THỊ CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN Về việc phòng trừ sâu, bệnh hại rừng trồng năm 2000 Tỉnh ta hiện có gần 58 ngàn ha rừng trồng các loại như thông nhựa, bạch đàn, keo, quế, lát hoa, trám... trong đó có nhiều loài cây dễ bị sâu, bệnh gây hại, nhất là có gần 27 ngàn ha rừng thông nhựa liền vừng, liền giải là đối tượng thường xuyên bị nhiễm sâu, bệnh hại với quy mô và mức độ gây hại khác nhau. - Năm 1999, nhờ làm tốt công tác điều tra, dự tính, dự báo và tổ chức phòng trừ sâu, bệnh hại rừng kịp thời, nên hạn chế được khả năng phát sinh, phát triển cũng như mức độ gây hại. Tuy vậy, trong năm qua một số lô rừng thông ở xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, ở 2 xã Hòa Sơn, Bài Sơn Đô Lương, sâu, bệnh hại phát sinh và gây hại, nhưng việc tổ chức phòng trừ của các chủ rừng thiếu chủ động, chưa triệt để nên gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của rừng cũng như môi trường sinh thái. Để công tác phòng trừ sâu, bệnh hại rừng trồng năm 2000 đạt hiệu quả cao, Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch UBND các huyện, thành và các chủ rừng có rừng trồng cần thực hiện tốt một số biện pháp sau đây : 1. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình trồng rừng, tổ chức quy hoạch, thiết kế để tỉa thưa những khu rừng trồng đã khép tán có mật độ dày, nhất là các khu rừng thông nhựa được trồng trước đây để tạo điều kiện cho rừng sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao năng suất chất lượng nhựa và chống chịu sâu, bệnh hại. 2. Chi cục Kiểm lâm tổ chức tập huấn, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ điều tra theo dõi và các biện pháp kỹ thuật phòng trừ cho các hạt Kiểm lâm, các lâm trường và các địa phương có rừng trồng, đồng thời phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo, giám sát các chủ rừng thường xuyên điều tra theo dõi nắm chắc diễn biến sâu, bệnh hại rừng và thông báo, dự báo kịp thời khả năng phát sinh, phát triển để tổ chức phòng trừ có hiệu quả cao. Xây dựng quy chế phòng trừ cho một số loài sâu, bệnh hại chủ yếu để bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. 3. Trong phòng trừ, chú trọng biện pháp phòng trừ sâu hại tổng hợp, ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học, nhất là đối với phòng trừ sâu róm thông, khuyến khích sử dụng chế phẩm Bôvêrin do Trung tâm bảo vệ tài nguyên và Môi trường Rừng Nghệ An sản xuất để phun phòng các thế hệ sâu róm thông từ tháng 10 đến tháng 3 tháng 4 năm sau. Đối với các chế phẩm hóa học, chỉ được sử dụng khi thật cần thiết, trên diện hẹp và chỉ được sử dụng những loại trong danh mục Nhà nước cho phép, có phổ hẹp để bảo vệ thiên địch kí sinh, ít gây độc hại cho người, gia súc, ít gây ô nhiễm môi trường. 4. Về kinh phí phòng trừ sâu, bệnh hại rừng: a) Đối với nguồn kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ và phòng trừ sâu, bệnh hại rừng quy mô vừa và nhỏ được cân đối trong kế hoạch hàng năm của ngành, giao chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tăng cường chỉ đạo, giám sát, hướng dẫn sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả cao. b) Khi sâu, bệnh xảy ra có nguy cơ trên quy mô lớn, lây nhiễm cao hoặc thành dịch, Chi cục Kiểm lâm, Sử Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng chủ rừng chủ động dùng mọi biện pháp để phồng trừ đồng thời lập kế hoạch trình UBND tỉnh xem
xét giải quyết. Nhận được Chỉ thị này, UBND các cấp, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm và Thủ trưởng các ban ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện đạt kết quả tốt. Giao Chi cục Kiểm lâm theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra giám sát, tổng hợp tình hình và định kỳ bào cáo UBND tỉnh. Chánh văn phòng UBND tỉnh giám sát việc triển khai thực hiện Chỉ thị này.