QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG V/v Ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng ỦY BAN NHÂN DÂN -
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Quyết định số 3667/1998/QĐ-UB ngày 30 tháng 6 năm 1998 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quy định về quản lý tổ chức - bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức hành chính- sự nghiệp và cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước thuộc UBND thành phố Đà Nẵng quản lý; -
Căn cứ Quyết định số 32/2002/QĐ-UB ngày 05 tháng 3 năm 2002 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc thành lập Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng; -
Theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố và của Trưởng ban Ban Tổ chức chính quyền thành phố Đà Nẵng, QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng.
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Những quy định trước đây của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và hướng dẫn của các ngành liên quan trái với nội dung quyết định này đều không còn hiệu lực.
Điều 3
Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Trưởng ban Ban Tổ chức chính quyền, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan và Giám đốc Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng căn cứ Quyết định thi hành.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
NGUYỄN BÁ THANH
QUY CHẾ
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng
(Ban hành kèm theo Quyết đị nh số 91/2002/QĐ-UB ngày 23 tháng 8 năm 2002 của Ủy ban nhân dân thành ph ố Đà Nẵng)
Chương I
Điều 1
Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là Làng Hy vọng) được thành lập theo Quyết định số 32/2002/QĐ-UB ngày 05 tháng 3 năm 2002 của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Điều 2
Làng Hy vọng là tổ chức xã hội, hoạt động vì mục đích nhân đạo, có chức năng giúp Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các chương trình, dự án hợp tác của các tổ chức Quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để triển khai các hoạt động nuôi dạy trẻ em mồ côi, khuyết tật, trẻ em từ 6 tuổi đến 15 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dạy tại Làng.
Làng Hy Vọng chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố Đà Nẵng, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản theo qui định của pháp luật.
Trụ sở đặt tại số nhà 209, đường Dũng Sỹ Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Chương II
Điều 3
Làng Hy vọng thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại
Điều 2 của Quyết định số 32/2002/QĐ-UB ngày 05 tháng 3 năm 2002 của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Điều 4
Làng Hy vọng có Giám đốc phụ trách, Phó giám đốc và 02 phòng chuyên môn: Phòng Hành chính- Quản trị và Phòng Nghiệp vụ giúp việc.
1. Giám đốc do Chủ nhiệm uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm sau khi có sự thoả thuận bằng văn bản của Trưởng ban Ban tổ chức chính quyền thành phố.
2. Phó Giám đốc do Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Làng Hy vọng.
3. Việc thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ các Phòng chuyên môn và bổ nhiệm, miễn nhiệm các Trưởng phòng, Phó Trưởng Phòng do Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố quyết định theo phân cấp quản lý.
4. Căn cứ vào số lượng, cơ cấu lao động đã được Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố xác định, khối lượng công việc thực tế và khả năng tài chính của đơn vị, Giám đốc Làng Hy vọng được tuyển dụng và ký hợp đồng lao động đúng theo quy định của Bộ Luật Lao động.
Điều 5
Chế độ tiền lương và phụ cấp:
1. Chế độ tiền lương Làng Hy vọng được áp dụng theo Nghị định số 25/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang.
2. Phụ cấp chức vụ lãnh đạo Làng Hy vọng được thực hiện:
a/ Giám đốc được hưởng hệ số: 0,3;
b/ Phó Giám đốc được hưởng hệ số: 0,2;
c/ Các chức vụ còn lại thực hiện theo quy định của Nhà nước.
Chương III
Điều 6
Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc Làng Hy vọng:
1. Chịu trách nhiệm điều hành, quản lý mọi hoạt động của Làng Hy vọng trước Chủ nhiệm uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố và trước pháp luật;
2. Quy định cụ thể nội quy, lề lối làm việc, mối quan hệ phối hợp công tác trong và ngoài đơn vị;
3. Định kỳ báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao cho Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố;
4. Khi xử lý công việc vượt quá thẩm quyền được giao, phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố. Đối với những vướng mắc về nghiệp vụ, Làng Hy vọng phải có văn bản xin ý kiến của các cơ quan chuyện môn có liên quan của thành phố;
5. Quản lý tài chính, tài sản được giao đúng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 7
Giúp việc cho Giám đốc có Phó Giám đốc, được Giám đốc phân công thực hiện một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những công việc được Giám đốc phân công.
Khi Giám đốc đi công tác vắng hoặc khi cần thiết, Phó Giám đốc được uỷ quyền điều hành hoạt động của Làng Hy vọng và phải báo cáo với Giám đốc về kết quả thực hiện công việc theo uỷ quyền.
Điều 8
Quản lý tài chính.
Thực hiện quản lý, sử dụng tài chính theo qui định của Pháp luật và theo đúng chương trình, mục tiêu, định mức của Nhà nước, qui định của các tổ chức đầu tư, viện trợ cho công tác nuôi dạy trẻ em tại Làng.
Làng Hy vọng chịu sự kiểm tra, giám sát và định kỳ báo cáo quyết toán tài chính cho Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố và các cơ quan chức năng có liên quan theo quy định của Pháp lệnh kế toán thống kê và các qui định hiện hành của Nhà nước.
Chương IV
Điều 9
Với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp:
Làng Hy vọng chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố và chịu sự kiểm tra, thanh tra theo luật định;
Thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ và đột xuất theo quy định và theo yêu cầu của công tác quản lý.
Điều 10
Với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
Làng Hy vọng chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra về chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Điều 11
Với các cơ quan, đơn vị khác:
Làng Hy vọng có mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của thành phố khi giải quyết các công việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Làng Hy vọng.
Chương V
Điều 12
Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc Giám đốc Làng Hy vọng thực hiện quy chế này.
Trong quá trình thực hiện Quy chế này, nếu có gì vướng mắc các cơ quan, đơn vị phản ánh về Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố để tổng hợp báo cáo UBND thành phố xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.