NGHỊ QUYẾT Về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2010 – 2015 --------------------- HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK KHÓA VII - KỲ HỌP THỨ 14
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003
Căn cứ Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015; Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định quản lý, sản xuất, kinh doanh rau quả và chè an toàn;
Xét Tờ trình số 54/TTr-UBND, ngày 10/6/2010 của UBND tỉnh về đề nghị ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2010 - 2015; Báo cáo thẩm tra số 24/BC-HĐND ngày 05/7/2010 của Ban KTNS của HĐND tỉnh và ý kiến của các vị Đại biểu HĐND tại kỳ họp, QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành, thông qua Nghị quyết về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2010 - 2015, với các nội dung cụ thể như sau.
I.
Mục tiêu:
Mục tiêu chung.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2015.
Điều 14 nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
e) Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại:
Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn được tham gia tổ chức gian hàng hội chợ nhằm quảng bá thương hiệu, chất lượng sản phẩm rau an toàn. Mức hỗ trợ 100% kinh phí thuê gian hàng tham gia các hội chợ nhưng tối đa không quá 50 triệu đồng/1 lần tham gia hội chợ. Nguồn kinh phí hỗ trợ lấy từ quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại được bố trí hàng năm cho Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh Đắk Lắk;
Hội thảo, hội nghị khách hàng: Hàng năm tổ chức 01 đến 02 lần hội thảo, hội nghị khách hàng. Mức hỗ trợ 100% nhưng tối đa không quá 15 triệu đồng/1 lần hội thảo, hội nghị, thời gian hỗ trợ là 05 năm;
Hỗ trợ kinh phí để xây dựng chuyên đề: Hàng năm xây dựng chuyên đề, phóng sự để tuyên truyền cho công tác sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn. Mức hỗ trợ 100% kinh phí, nhưng tối đa không quá 5 triệu đồng /chuyên đề, thời gian hỗ trợ là 05 năm.
f) Chính sách tín dụng:
Đối tượng áp dụng:
+ Có đăng ký sản xuất, sơ chế rau an toàn.
+ Chưa được vay ưu đãi từ quỹ đầu tư phát triển của tỉnh.
Hỗ trợ lãi suất vay:
Các nguồn vốn vay được hỗ trợ lãi suất: Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, sơ chế rau an toàn vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
Điều kiện được hỗ trợ lãi suất vay: Có phương án sản xuất, sơ chế rau an toàn được các tổ chức tín dụng chấp thuận và hợp đồng vay có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn.
Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay:
+ Ngân sách tỉnh chỉ hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn ở phạm vi vay tối đa từ 200 triệu đồng trở xuống và chỉ được hỗ trợ lãi suất duy nhất 01 lần vay.
+ Thời gian hỗ trợ lãi suất: Theo dự án của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, sơ chế rau an toàn được phê duyệt tối đa không quá 36 tháng.
III. Giải pháp:
1. Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn.
a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất, sơ chế rau an toàn để các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sản xuất rau an toàn yên tâm đầu tư phát triển mở rộng sản xuất.
b) Tuyên truyền, vận động, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất để tích tụ ruộng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tăng hiệu quả đầu tư để phát triển vùng sản xuất, sơ chế rau an toàn.
2. Rà soát quy hoạch vùng sản xuất, sơ chế rau an toàn trên địa bàn tỉnh để xây dựng vùng sản xuất tập trung, đảm bảo sản xuất rau an toàn đạt hiệu quả cao, thu hút lao động tại cơ sở.
3. Xây dựng mô hình và tổ chức nhân rộng mô hình.
Hàng năm mỗi huyện cần hỗ trợ kinh phí xây dựng từ 1-2 mô hình, riêng thành phố Buôn Ma Thuột và thị xã Buôn Hồ mỗi năm xây dựng 2 - 3 mô hình sản xuất rau an toàn phù hợp tại địa phương, tổ chức giới thiệu nhân rộng mô hình, tham quan học tập và trao đổi kinh nghiệm trong quá trình thực hiện mô hình.
4. Tiếp tục đào tạo nâng cao chuyên môn cho cán bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện tốt công tác đào tạo, chuyển giao khoa học kỹ thật cho nông dân về sản xuất, sơ chế rau an toàn.
5. Tiến hành tổng kết, sơ kết đúc rút kinh nghiệm về công tác tổ chức, quản lý và triển khai các mô hình sản xuất rau có hiệu quả cao trong từng giai đoạn để nhân rộng trên địa bàn.
6. Tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chính sách về phát triển sản xuất, sơ chế rau an toàn.
Điều 2
Kinh phí thực hiện: Trên cơ sở phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh lập dự toán trình Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt kinh phí trong tổng dự toán ngân sách hàng năm của tỉnh.
Điều 3
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho UBND tỉnh triển khai thực hiện và báo cáo kết quả tại các kỳ họp HĐND tỉnh. Giao cho thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND và các vị Đại biểu HĐND tỉnh phối hợp giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết này.
Điều 4
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày HĐND tỉnh thông qua.
Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Đắk Lắk khóa VII, Kỳ họp thứ 14 thông qua ngày 09/7/2010./.