CHỈ THỊ Về việc đẩy mạnh hoạt động và tăng cường công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk --------------------------- Trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh đã từng bước trở thành một trong những động lực quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả các ngành sản xuất chủ lực của tỉnh. Kết quả nghiên cứu khoa học đã góp phần tạo luận cứ khoa học cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, nhận thức của xã hội về vai trò khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế như: Việc xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với sản xuất và đời sống chưa được chú trọng đúng mức; kinh phí đầu tư cho ứng dụng chuyển giao còn thấp, cơ chế hỗ trợ về tài chính còn bất cập; Cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện làm việc, các phòng thí nghiệm, thử nghiệm còn hạn chế; Các doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đầu tư cho khoa học và công nghệ; Hoạt động khoa học và công nghệ các huyện, thị xã, thành phố còn yếu, thiếu cán bộ chuyên trách; Quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn lúng túng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ; Hoạt động quản lý công nghệ, đánh giá, thẩm định công nghệ còn yếu; Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; Công tác thanh tra, kiểm tra về khoa học và công nghệ tuy đã được tăng cường nhưng chưa thực hiện thường xuyên, liên tục và bao quát hết địa bàn, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm; Công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học và công nghệ hiệu quả còn thấp; Sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các sở, ban ngành, viện, trường chưa thường xuyên và còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do: Kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ còn hạn hẹp, chủ yếu từ ngân sách nhà nước, mới chỉ đạt khoảng 0,5% tổng chi ngân sách địa phương; Kinh phí phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ quá thấp, đầu tư dàn trải; Chưa hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh; Hệ thống tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự liên kết chặt chẽ để giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc mà khoa học công nghệ địa phương đặt ra; Cơ chế, định mức tài chính của ngành khoa học công nghệ nói chung chậm được đổi mới, chưa huy động tối đa nguồn lực vật chất và con người;
Phần lớn doanh nghiệp của tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, ít đầu tư cho khoa học và công nghệ, còn lạc hậu, chậm được đổi mới, đã hạn chế sức cạnh tranh. Hoạt động quản lý công nghệ, phát triển thị trường công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ còn khá mới mẽ, thiếu thông tin, kinh nghiệm quản lý. Công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, doanh nghiệp về vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ chưa được quan tâm đúng mức.
Chương trình số 26-CTr/TU ngày 12/4/2013 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 43/2011/NQ-HĐND ngày 22/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ thị:
Chương trình số 26-CTr/TU ngày 12/4/2013 của Tỉnh ủy. Các sở, ngành chủ quản tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và chỉ đạo quyết liệt các tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực thuộc thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ; Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ và Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ về thống kê khoa học và công nghệ.
Chương trình số 26-CTr/TU ngày 12/4/2013 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 43/2011/NQ-HĐND ngày 22/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh của tỉnh; Huy động các nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; kiện toàn, thành lập mới các hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành; chú trọng việc đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm.
Chương trình số 26-CTr/TU ngày 12/4/2013 của Tỉnh ủy; tăng cường các biện pháp kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhất là về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ và hạt nhân; đẩy mạnh phát triển hệ thống mạng thông tin khoa học và công nghệ về vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh nhằm giúp người dân tiếp cận và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.
Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020"; phối hợp các sở, ngành liên quan tích cực thực hiện
Chương trình Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương giai đoạn 2014-2020 trên địa bàn tỉnh.
Chương trình số 26-CTr/TU ngày 12/4/2013 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 43/2011/NQ-HĐND ngày 22/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, ứng dụng các kết quả nghiên cứu, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.