QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Đề án xây dựng, củng cố Công an xã, thị trấn (nơi không bố trí Công an chính qui) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (giai đoạn 2010 – 2015) ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Pháp Lệnh Công an xã số 06/2008/PL-UBTVQH12 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/11/2008;
Căn cứ Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã;
Căn cứ Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 20/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Pháp lệnh Công an xã;
Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;
Căn cứ Nghị quyết số 20/2009/NQ-HĐND ngày 10/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh (khóa X) về củng cố, xây dựng Công an xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2010 - 2015;
Xét đề nghị của Giám đốc Công an tỉnh tại Tờ trình số 95/PV11(TH) ngày 15/01/2010 và ý kiến thẩm định của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh tại Báo cáo số 214/BC-STP ngày 25/11/2009,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt Đề án củng cố, xây dựng Công an xã, thị trấn (nơi không bố trí Công an chính qui) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (giai đoạn 2010 - 2015)
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 (mười) ngày kể từ ngày ký.
Điều 3
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc Công an tỉnh; Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố; Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Xuân Huế
ĐỀ ÁN
Xây dựng, củng cố Công an xã, thị trấn (nơi không bố trí Công an chính qui) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (giai đoạn 2010 - 2015)
(Phê duyệt kèm theo Quyết định số 06 /2010/QĐ-UBND
ngày 27 tháng 01 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi)
Phần thứ nhất
Điều 10 Pháp lệnh Công an xã và khoản 2
Điều 3 Nghị định số 73/CP của Chính phủ quy định khung số lượng Phó Trưởng CA xã và CA viên như sau: Mỗi xã được bố trí 01 Phó Trưởng CA xã; xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự, xã loại 1 và xã loại 2 được bố trí không qúa 02 Phó trưởng CA xã. Mỗi thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và đơn vị dân cư tương đương được bố trí 01 CA viên. Đối với thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và đơn vị dân cư tương đương thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự, xã loại 1 và xã loại 2 được bố trí không qúa 02 CA viên; trụ sở hoặc nơi làm việc của CA xã được bố trí không qúa 03 CA viên làm nhiệm vụ thường trực 24/24 giờ hàng ngày.
Đối chiếu với qui định của Chính phủ thì thực trạng lực lượng CA xã hiện nay vừa thiếu, vừa yếu so với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở. Do vậy cần phải được củng cố, kiện toàn về tổ chức CA xã để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
b) Về điều kiện đảm bảo:
Trang thiết bị:
+ Về trang phục: Thực hiện theo
Điều 21 Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ về Công an xã, từ năm 2001 đến nay, do ngân sách của tỉnh còn hạn hẹp nên chưa thể bố trí nguồn; để kịp thời trang bị trang phục cấp cho lực lượng Công an xã, Công an tỉnh đã chủ động trích một phần trong nguồn kinh phí Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ hàng năm về công tác an ninh - trật tự để mua trang phục cho Trưởng và Phó Trưởng Công an xã. Từ năm 2007 đến nay đã mua và cấp phát cho lực lượng Công an xã trong toàn tỉnh mỗi đ/c 01 bộ quần áo + 01 mũ mềm + 01 sao hiệu Công an xã theo đúng mẫu quy định tại Quyết định số 1010/2003/QĐ-BCA(H11), ngày 18/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn ở cơ sở, Công an một số huyện, cũng đã đề nghị UBND cùng cấp hỗ trợ kinh phí để mua, cấp phát trang phục cho lực lượng Công an xã mỗi đ/c 01 bộ quần áo.
+ Về vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện: Theo thống kê báo cáo của Công an các huyện, thành phố trong 167 Ban Công an xã, thị trấn không chính quy hiện nay có: 17 súng ngắn, 16 dùi cui điện (ngân sách xã tự mua), 223 gậy cao su, 50 còng số 8; có 51/167 Ban Công an xã được UBND xã lắp đặt máy điện thoại cố định riêng tại nơi làm việc; 136/167 Ban Công an xã được trang bị tủ đựng tài liệu, hồ sơ.
+ Về trụ sở làm việc: Hiện có 26/167 Ban Công an xã có phòng làm việc riêng trong khuôn viên trụ sở UBND xã, 141/167 Ban Công an xã có phòng làm việc chung cùng trụ sở UBND xã; một số xã ở các huyện miền núi hiện nay chưa có phòng làm việc riêng, còn bố trí làm việc chung với Xã đội hoặc Tư pháp xã. Diện tích bố trí cho các Ban Công an xã để vừa làm việc, vừa tiếp dân bình quân từ 12 - 20 m 2 , chủ yếu là nhà cấp 4, so với yêu cầu thì rất chật hẹp, chưa đảm bảo phục vụ công tác.
Chế độ chính sách:
+ Từ 1999 - cuối 2004, phụ cấp hàng tháng của Công an xã được ngân sách địa phương chi trả theo
Điều 12 Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ về Công an xã và được hưởng các chế độ BHXH, BHYT (Trưởng Công an xã 480.000đ/tháng; Phó Trưởng Công an xã 320.000đ/tháng; Công an viên 160.000đ/tháng). Tuy phụ cấp hàng tháng có thấp, nhưng được hưởng chế độ BHXH và BHYT.
+ Từ 2005 - 12/2006, phụ cấp hàng tháng của Công an xã được ngân sách địa phương chi trả thực hiện theo Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 11/12/2004 của HĐND tỉnh với mức: Trưởng Công an xã được hưởng chế độ tiền lương của công chức cấp xã và được hưởng chế độ BHXH và BHYT; Phó Trưởng Công an xã hưởng mức phụ cấp cán bộ không chuyên trách cấp xã là 270.000đ/tháng, Công an viên hưởng mức phụ cấp 120.000đ/tháng và đều không được hưởng chế độ BHXH, BHYT.
+ Từ tháng 12/2006 đến nay, được thực hiện chi trả theo Nghị quyết số 57/2006/NQ-HĐND ngày 12/12/2006 của HĐND tỉnh về việc điều chỉnh mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố với mức: Trưởng Công an xã hưởng chế độ tiền lương của công chức cấp xã và được hưởng chế độ BHXH, BHYT; Phó Trưởng Công an xã hưởng mức phụ cấp cán bộ không chuyên trách cấp xã là 450.000đ/tháng, Công an viên hưởng mức phụ cấp là 270.000đ/tháng và vẫn không được hưởng chế độ BHXH, BHYT.
c) Về hoạt động của Công an xã:
Trong những năm qua, hoạt động của lực lượng Công an xã trong toàn tỉnh luôn bám sát nội dung Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ về Công an xã, các hướng dẫn của Bộ Công an và Giám đốc Công an tỉnh. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành của UBND cùng cấp, hướng dẫn nghiệp vụ của Công an cấp trên, lực lượng Công an xã đã làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo tổ chức thực hiện các qui định của pháp luật có liên quan đến công tác giữ gìn an ninh - trật tự, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, xây dựng lực lượng Công an xã ngày càng vững mạnh.
Chủ trì, phối hợp với các lực lượng có liên quan trên địa bàn tổ chức công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; tham gia công tác quản lý Nhà nước về ANTT ở cơ sở, làm nòng cốt trong công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ ANTT ở địa bàn cơ sở, phục vụ kịp thời các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương.
Tuy nhiên, do những bất cập về tổ chức biên chế, trình độ văn hóa, nghiệp vụ của lực lượng Công an xã; trang thiết bị, kinh phí, cơ sở vật chất và chế độ chính sách đảm bảo cho hoạt động của Công an xã còn hạn chế, nên đã làm ảnh hưởng đến hiệu qủa, chất lượng công tác của Công an xã trong thời gian qua.
Trước thực trạng trên, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự trong tình mới, đòi hỏi phải củng cố, xây dựng lực lượng Công an xã toàn diện về mọi mặt, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho hoạt động của lực lượng Công an xã theo đúng Pháp lệnh Công an xã đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU
Phần thứ ba