QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Đề án tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ngày 03/12/2004;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2010/NQ-HĐND ngày 14 tháng 12 năm 2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thông qua Đề án tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước tại Tờ trình số 1523/TTr-LĐTBXH ngày 29/12/2010,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 . Phê duyệt Đề án tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (có Đề án kèm theo).
Điều 2 .
1. Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trên cơ sở Đề án này, chủ trì phối hợp các sở, ngành chức năng, UBND các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện.
2. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ Đề án đã được phê duyệt đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh.
3. Giao Sở tài chính cân đối, bố trí nguồn kinh phí hàng năm và giai đoạn theo đề án để thực hiện triển khai tốt Đề án.
Điều 3.
Các ông (bà): Chánh văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Lao động - Thương binh và xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Trương Tấn Thiệu
ĐỀ ÁN
Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020
(Kèm theo Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 04/01/2011 của UBND tỉnh)
I. Đặc điểm tình hình địa phương
Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, có diện tích tự nhiên là 6857,35 km 2 , có đường biên giới với nước bạn Campuchia dài 240 km, dân số trung bình năm 2009 là 874.714 người, gồm 41 dân tộc anh em, các dân tộc ít người chiếm khoảng 18,47% dân số, số trẻ em dưới 16 tuổi cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục là 366.012 em, chiếm 41,25% dân số toàn tỉnh, trong thời gian qua công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được các ngành, các cấp, các hội đoàn thể quan tâm giúp đỡ cùng với sự hưởng ứng của cộng đồng cũng đã hạn chế những mặt thiệt thòi cho trẻ em.
Tuy nhiên, thời gian gần đây tình hình trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bỏ học ngày càng phổ biến. Nhằm tạo môi trường xã hội an toàn, lành mạnh và thân thiện để trẻ em được sống, vui chơi, được học tập để phát triển tài năng cho đất nước sau này, nên không ngừng tăng cường củng cố công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em trong tình hình mới là cần thiết.
II. Thực trạng
1. Thực trạng về công tác tổ chức:
Thời gian gần đây, đặc biệt là từ khi giải thể và thành lập lại bộ máy công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em giao về ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSTE) gặp nhiều khó khăn, nhất là ở cấp huyện, thị và xã, phường, thị trấn. Cụ thể như:
Cấp huyện, thị xã:
+ Biên chế: Hiện số công chức được bố trí làm công BVCSTE tại huyện, thị xã là 10 công chức (01người/huyện) 4 cán bộ chuyên trách, chiếm tỷ lệ 40%, số còn lại kiêm nhiệm thêm một hoặc nhiều nhiệm vụ khác, hầu hết mới đảm nhận nhiệm vụ này, do không có cán bộ nào từ Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (sau khi giải thể) chuyển sang làm công tác BVCSTE.
+ Mỗi huyện bố trí 01 lãnh đạo phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phụ trách công tác BVCSTE.
Cấp xã, phường, thị trấn: Hiện nay, tất cả các xã, phường, thị trấn đều không còn Ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (Ban DSGĐTE), quản lý nhà nước về BVCSTE do cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phụ trách, trong đó 100% là kiêm nhiệm, trình độ văn hóa thấp (Tốt nghiệp THPT chiếm 70%, còn lại là tốt nghiệp THCS chiếm 30%) và trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế (Trình độ đại học chiếm 6,8%, Trung cấp chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ 52%, còn lại 41,12% trình độ sơ cấp)
Có thể nói từ khi giải thể Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em đội ngũ cộng tác viên ở cơ sở không còn.
2. Thực trạng về công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em:
Cán bộ lao động ở xã, phường, thị trấn chủ yếu thực hiện chính sách trợ cấp xã hội và giảm nghèo đã vượt khả năng đảm đương công việc, nay lại kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em nên không thể thực hiện tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn. Bên cạnh đó, ở một nơi chưa thật sự quan tâm, còn giao khoán trắng cho cán bộ chuyên môn. Do đó, công tác chỉ đạo, quản lý chưa chặt chẽ, chưa sát với thực tế và cũng chưa quan tâm tổ chức vận động các nguồn lựctrong khi đó, nguồn kinh phí từ ngân sách chưa nhiều nên việc thực hiện các mục tiêu của
Chương trình vì trẻ em chưa tốt.
Chương trình hành động vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004 - 2010.
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020
Mục tiêu 1: Xây dựng môi trường thân thiện, an toàn và lành mạnh; phòng ngừa, phát hiện xử lý nghiêm việc lạm dụng, xâm hại trẻ em để mọi trẻ em được sống, bảo vệ và phát triển.
Mục tiêu 2: Xây dựng tổ chức đội ngũ cán bộ, cộng tác viên làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em từ tỉnh đến cơ sở thôn, ấp, khu phố; nhằm thực hiện tốt các quyền của trẻ em được pháp luật quy định.
Mục tiêu 3: Phòng ngừa, phát hiện và bảo vệ sớm trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực, ngược; trẻ em bị bệnh hiểm nghèo, khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được trợ giúp và tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa vui chơi. Trẻ em và người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt (nghiện ma túy, trẻ em làm trái pháp luật …) được chăm sóc, giáo dục, phục hồi và hòa nhập cộng đồng.
Mục tiêu 4: Tạo cơ hội cho trẻ em được tiếp cận với thông tin, được tham gia vào các hoạt động xã hội, được bày tỏ ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến trẻ em thông qua các diễn đàn trẻ em ở tất cả các cấp và các cuộc giao lưu đối thoại giữa trẻ em với các cơ quan quản lý, các đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2011- 2020;
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011- 2015.
Chương trình hành động vì trẻ em;