CHỈ THỊ Về đẩy mạnh thực hiện kế hoạch y tế năm 1999 nhằm đạt được các mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII vềcông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Thựchiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và Nghị quyết 37/CP của Chính phủ vềđịnh hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn1996-2000 và chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam, ngành Y tế đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng. Các chỉ số sức khoẻ cơ bản của nhân dân ta cao hơnnhiều so với các nước có cùng mức thu nhập kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được, chúng ta cũng còn nhiều khó khăn, tồn tại trong phòngbệnh, chữa bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học. Đểphát huy những thành tựu đã đạt được, hạn chế thiếu sót và khắc phục những khókhăn về ngân sách, thực hiện tốt kế hoạch năm 1999 và những mục tiêu chủ yếunăm 2000, Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ thị các Sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương, các đơn vị trực thuộc Bộ, y tế các Bộ, Ngành và Chủ nhiệm các mụctiêu chương trình y tế Quốc gia (gọi tắt là các đơn vị), chỉ đạo, thực hiện tốtmột số nhiệm vụ trọng tâm sau đây: 1. Tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh, chủ động phòng chống cácbệnh dịch nhưSốt xuất huyết, Sốt rét, Thương hàn, Viêm não Nhật bản B, Tả, Dịch hạch... vớicác biện pháp cơ bản sau: a)Chủ động triển khai ngay từ đầu năm các hoạt động về vệ sinh môi trường, giảiquyết tốt vệ sinh phân nước rác và các biện pháp khống chế các vector truyềnbệnh. b)Tăng cường củng cố hệ thống giám sát dịch tễ các cấp nhằm chủ động ngăn chặncác bệnh truyền nhiễm gây dịch. Đối với những địa phương có nguy cơ dịch bệnhcao, cần chú ý công tác giám sát phát hiện và thông tin báo dịch lên tuyến trênđể có biện pháp xử lý kịp thời. c)Khẩn trương triển khai mục tiêu phòng chống sốt xuất huyết, tiếp tục đẩy mạnhphòng chống nhiễm HIV/AIDS và duy trì kết quả phòng chống các bệnh dịch khác; khôngđể cho dịch lớn xảy ra, khi có dịch xảy ra phải huy động mọi biện pháp dập tắtngay . Phấn đấu giảm 30% số mắc và 10% số chết đối với các bệnh dịch sovới năm 1998. d)Đối với các tỉnh đang có dịch tả lưu hành cần tập trung mọi cố gắng để dập tắtdịch, hạn chế tới mức thấp nhất số mắc và chết do dịch tả gây ra. Đối với cáctỉnh có nguy cơ lan truyền dịch tả cần áp dụng các biện pháp kiểm dịch nghiêmngặt, khống chế không để dịch xảy ra trên địa bàn, nếu có dịch xảy ra phải cócác biện pháp khống chế và dập dịch kịp thời. 2. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. a)Đẩy mạnh giáo dục 12 điều qui định về y đức trong đội ngũ cán bộ ngành y tế,thực hiện quy chế bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB) vàgiảm phiền hà cho bệnh nhân. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 661-TTg ngày17/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh ngay cho những người bệnhcấp cứu và chấn thương; Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Y tế số 11 CT-BYT ngày11/12/1995 về củng cố công tác phục vụ người bệnh tại bệnh viện và chỉ thị số08/1998/CT-BYT ngày 6/11/1998 về dự phòng và cấp cứu các tai biến sản khoa nhằmhạn chế thấp nhất những tai biến có thể xảy ra trong điều trị. b)Từng bước sắp xếp mạng lưới KCB cho phù hợp với quy hoạch của ngành và địa phương.Tuỳ hoàn cảnh từng cơ sở, địa phương để đầu tư phát triển trên 3 lĩnh vực: Cơsở hạ tầng, trình độ cán bộ (chú ý giải quyết cơ cấu cán bộ phục vụ mô hìnhbệnh tật cộng đồng) và trang thiết bị. c)Cần quan tâm thực hiện tốt việc KCB cho người nghèo, người có công với nước,các gia đình chính sách và đồng bào dân tộc ít người. Đối với những người thuộcdiện quá nghèo cần thực hiện tốt Thông tư 05/1999/TT-LT của liên bộ Y tế - Tàichính - Lao động và Thương binh - Xã hội. d)Chấn chỉnh công tác dược bệnh viện, củng cố Hội đồng thuốc và Điều trị bệnhviện nhằm triển khai thực hiện tốt chỉ thị số 04/1998/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Ytế về quản lý, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và tiết kiệm. e)Tổ chức tốt việc khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT), tránh sự phân biệt đối xửgiữa người KCB phải trả viện phí với người KCB có thẻ BHYT. Giải quyết tốt cácvướng mắc khi triển khai Nghị định 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành điềulệ BHYT. f)Các bệnh viện phải thực hiện chế độ vệ sinh thường xuyên, định kỳ quét vôi, sơncửa, bảo đảm bệnh viện luôn khang trang sạch đẹp. 3. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em. Năm1999 tập trung cho chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em với các nội dungchủ yếu sau: a)Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau đẻ, đảm bảo đẻ sạch và làm mẹ antoàn. Mỗi bà mẹ được khám thai 3 lần trong một kỳ mang thai và được khám ítnhất một lần trong vòng 42 ngày sau đẻ, phấn đấu có trên 80% các bà mẹ đẻ đượccán bộ y tế chăm sóc. b)Tăng cường công tác thông tin, giáo dục truyền thông và tư vấn về sức khoẻ sinhsản, làm mẹ an toàn, đẻ sạch cho các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ. c)Giảm 25% số nạo hút thai so với năm 1998 bằng việc phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Dân số và Kế hoạch hóagia đình các cấp trong cung ứng các dịch vụ tránh thai truyền thông dân số. d)Phối hợp và lồng ghép các chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em như tiêm chủngmở rộng, ARI, CDD, Vitamine A ... nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 1tuổi và dưới 5 tuổi còn 35%o và 42%o, thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơsinh vào năm 2000. 4. Đẩy mạnh chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em nhằm giảm tỷlệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (Cân nặng theo tuổi) là 3% mỗi năm với cácbiện pháp chủ động sau: a)Tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em,chú trọng các địa phương nghèo, có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao; thực hiệnđúng các mục tiêu đã được qui định trong Quyết định số 244/1998/QĐ-TTg ngày17/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung mục tiêu phòng, chống suydinh dưỡng trẻ em vào
Chương trình mục tiêu quốc gia Thanh toán một số bệnh xãhội và bệnh dịch nguy hiểm.