NGHỊ QUYẾT Về kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2014, tỉnh Hòa Bình HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004; Thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2014
Căn cứ Nghị quyết số 144/2010/NQ-NĐND ngày 21 tháng 7 năm 2010 cua Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015; Trên cơ sở các Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các cơ quan hữu quan và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Thông qua Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2013; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.
(Có Kế hoạch chi tiết kèm theo).
Điều 2
Hội đồng nhân dân tỉnh giao:
Ủy ban nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ của mình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đạt kết quả.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết này.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác giám sát và động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Điều 3
Nghị quyết này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình khóa XV, kỳ họp thứ 7 thông qua./.
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn Quang
BÁO CÁO
Tình hình Kinh tế - Xã hội năm 2013; kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội năm 2014
(Kèm theo Nghị quyết số: 62/2013/NQ-HĐND
ngày 11 tháng 12 năm 2013 của HĐND tỉnh)
A. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2013
Năm 2013, kinh tế cả nước tiếp tục khó khăn, sản xuất ở mức cầm chừng, hàng hóa tiêu thụ chậm, tồn kho nhiều, đầu tư xã hội thấp, thời tiết mưa nhiều,... đã tác động đến kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, với sự cố gắng của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các thành phần kinh tế và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, kinh tế của tỉnh giữ được ổn định, tăng trưởng ước đạt 10,2%, các ngành kinh tế đang dần được phục hồi; thu ngân sách nhà nước ước đạt 2.010 tỷ đồng (thu cân đối 1.760 tỷ đồng), bằng 118% dự toán Chính phủ giao và bằng 103% chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh; lạm phát được kiềm chế, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm tăng khoảng 6,5% so với tháng 12/2012; đời sống nhân dân có bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,38% so với 2012 (giảm còn 18,35%); an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Bên cạnh những kết quả đạt được, năm 2013 cơ bản vẫn là năm khó khăn do suy giảm kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với kế hoạch (tăng trưởng ước 10,2%, kế hoạch là 11%). Thị trường bất động sản trầm lắng, chưa phục hồi, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản gặp thời tiết phức tạp, mưa nhiều và ảnh hưởng của bão; bên cạnh đó, giá bán nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp trong khi nguyên liệu đầu vào vẫn ở mức cao. Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng nhưng chưa cao, vẫn còn sản phẩm tồn kho, tiêu thụ chậm. Lãi suất đã giảm ở mức tương đối thấp, nhất là 5 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, tuy nhiên mức dư nợ tín dụng đạt thấp, nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận vốn tín dụng còn hạn chế. Số lượng dự án đăng ký đầu tư và số vốn đăng ký mới giảm so với những năm qua. Công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng, chống tham nhũng lãng phí, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đạt được những kết quả bước đầu, nhưng cần tiếp tục cố gắng. Chất lượng công vụ ở một số nơi còn thấp. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, môi trường, văn hóa xã hội tiếp tục có bước tiến bộ, tuy nhiên còn có những điểm hạn chế như chất lượng khám chữa bệnh chưa cao; chất lượng giáo dục chưa đồng đều; chất lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc vẫn còn phức tạp, đặc biệt là nạn buôn bán sử dụng chất ma túy ở 2 xã Hang Kia, Pà Cò có xu hướng lan sang các xã khác.
Hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan là do tình hình kinh tế thế giới khó khăn biến động phức tạp. Trong nước, những yếu kém nội tại của nền kinh tế như đầu tư công kém hiệu quả, sự nới lỏng chính sách tài chính, tiền tệ từ những năm trước, chất lượng nền kinh tế còn thấp,... Cộng với những khó khăn do thiên tai đã tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Nguyên nhân chủ quan, nội tại là do điểm xuất phát của tỉnh thấp, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ, tiềm lực tài chính, trình độ khoa học công nghệ, nhân công còn thấp, kinh doanh tăng trưởng dựa trên vốn vay là chính,... dễ bị tác động xấu của môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định.
Công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều; đất đai, mặt bằng chưa được chuẩn bị tốt; chất lượng công vụ một số ngành, địa phương chưa cao; kết cấu hạ tầng còn yếu kém,...đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
B.
MỤC TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014
Mục tiêu tổng quát
Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và
Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 09/6/2011 của Tỉnh ủy và Phương hướng giải pháp, cơ chế phát triển vùng động lực của tỉnh. Các ngành, địa phương rà soát, kiểm điểm những việc đã làm, những việc còn chưa làm, đánh giá những tồn tại, hạn chế để tiếp tục triển khai các chương trình, kế hoạch đảm bảo đúng tiến độ, hiệu quả.
Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị (về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW đến năm 2020)...
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 và các chương trình của nhà nước dành cho vùng nông thôn.
Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ và của tỉnh. Thực hiện xã hội hóa một số dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, thay thế những văn bản đã lạc hậu, là rào cản cải cách hành chính góp phần giảm thủ tục hành chính, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.