THÔNG TƯ Hướng dẫn việc thi hành điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và phục vụ Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 76-CP ngày 8/4/1974 ban hành điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và phục vụ thuộc khu vực tập thể và cá thể (đăng ở phụ lục công báo số 5 ngày 15/4/1974), thay thế điều lệ ban hành theo Nghị định số 488-TTg ngày 30/3/1955, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thi hành như sau : 1. Nắm vững mục đích việc đăng ký kinh doanh đã được xác định rõ trong điều lệ - Đăng ký kinh doanh là việc kiểm kê nhằm đạt các cơ sở kinh doanh , công thương nghiệp và phục vụ tập thể và cá thể , dưới sự quản lý của Nhà nước , là công tác tổ chức một bộ phận lao động xã hội làm ăn đúng đắn theo hướng phân bổ lao động , quy hoạch ngành nghề và các chính sách , chế độ luật lệ quản lý của Nhà nước , nhằm phát huy tác dụng tích cực của các cơ sở kinh doanh này phục vụ các nhu cầu xã hội khắc phục tình trạng tiêu cực hiện nay là phát triển vô tổ chức và làm ăn phi pháp dưới nhiều hình thức. Yêu cầu của việc đăng ký kinh doanh là bảo đảm cho các ngành quản lý của Nhà nước nắm được đầy đủ và thực chất tình hình các cơ sở sản xuất kinh doanh đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy việc tiếp tục cải tạo kinh doanh chủ nghĩa. Nhà nước dựa vào việc đăng ký kinh doanh để quy hoạch một mạng lưới bao gồm các cơ sở quốc doanh để quy thể và hộ cá thể (có tổ chức và quản lý ) nhằm đáp ứng tốt để loại trừ một số cơ sở kinh doanh trái phép mà thiếu sự thay thế của quốc doanh, làm cho cung cầu mất cân đối tự nhân lại phát triển bừa bãi. Đăng ký kinh doanh còn là sắp xếp hợp lý công văn sản xuất và buôn bán nhỏ , đồng thời đấu tranh chống bọn đầu cơ , buôn lậu chứa chấp và tiêu thụ của gian thu nhập phi pháp , trốn thuế lậu thuế của Nhà nước , để đảm bảo yêu cầu quản lý và phân bổ lao động xã hội. Vì vậy , đăng ký kinh doanh đòi hỏi đi sâu vào tình hình kinh tế , đời sống , tình hình tổ chức các cơ sở không phải chỉ làm công việc đơn thuần giấy tờ hành chính , có thể dẫn đến hợp pháp hóa những cơ sở kinh doanh trái phép. UBHC các tỉnh và thành phố cần tổ chức việc nghiên cứu ký điều lệ đăng ký kinh doanh , có các ngành các đoàn thể và UBHC huyện , khu phố , thị xã tham gia , để nắm vững mục đích yêu cầu và tính chất phức tạp của việc đăng ký kinh doanh uốn nắn các nhận thức giản đơn , khuynh hướng làm qua loa , đại khái... Phải tập trung chỉ đạo phối hợp chặt chẽ công tác của các cấp chính quyền ở cơ sở , của các ngành chủ quản và các ngành tổng hợp , theo đúng sự phân công quy định trong điều lệ để việc đăng ký kinh doanh lần này đạt kết quả tốt bảo đảm yêu cầu quản lý của Nhà nước , bảo đảm công ăn việc làm đúng đắn của người kinh doanh và đáp ứng tốt các nhu cầu của xã hội. 2. Qui hoạch ngành nghề và chuẩn bị kế hoạch đăng ký Theo điều 16 của điều lệ và trong phạm vi quản lý của mình các ngành : Nội thương , lương thực , Y tế , văn hóa , Giao thông , vận tải , Xây dựng , Liên hiệp hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ... có trách nhiệm hướng dẫn việc qui hoạch ngành nghề (nắm toàn bộ nhu cầu , thị trường xã hội , khả năng đáp ứng của quốc doanh tính tỷ trọng khu vực tập thể , cá thể về ngành , nghề , mặt hàng kinh doanh , cụ thể hóa kế hoạch kê khai đăng ký và các mẫu tờ khai cho các cơ sở thuộc ngành mình phụ trách) ; kiện toàn hoặc tổ chức lại các cơ sở kinh doanh cụ thể hóa kế hoạch kê khai đăng ký và các mẫu tờ khai cho các cơ sở thuộc ngành mình phụ trách. UBHC tỉnh , thành phố nắm lại tình hình các cơ sở kinh doanh trong địa phương , lập kế hoạch đăng ký kinh doanh , kết hợp với đăng ký lao động, sắp xếp công ăn việc làm , quản lý lương thực và mở rộng mạng lưới phục vụ của quốc doanh , chỉ đạo UBHC huyện , khu phố , thị xã thành lập hội đồng đăng ký - soát lại và một bước kiện toàn các ngành xung quanh huyện, khu phố , thị xã - nhất là Phòng tài chính - để làm được nhiệm vụ thành viên của hội đồng đăng ký - ra thông cáo công bố điều lệ có hiệu lực thi hành tại địa phương , và chỉ đạo việc phổ biến , giải thích Điều lệ trên báo và đài truyền thanh địa phương , trong các cơ sở kinh doanh , trong nhân dân và trong các xí nghiệp , cơ quan nhà nước. Đối với anh em thương binh hoặc hưu trí có kinh doanh , thì phối hợp với cơ quan thương binh xã hội để giải thích điều lệ. 3. Tiến hành việc kê khai và nhận thực tờ khai đối với tất cả các cơ sở kinh doanh nói ở điều 2. Kể cả các cơ sở chuyên nghiệp và chưa chuyên nghiệp cơ sở kinh doanh tại chỗ hoặc lưu động.v.v... Đối với công nhân viên chức tại chức mà đời sống gia đình có khó khăn thì xí nghiệp, cơ quan phối hợp với tiểu khu (khối phố) xã để giúp đỡ cho gia đình có việc làm , tăng thêm thu nhập. Trong đợt đăng ký này ,các xí nghiệp , cơ quan phải liên hệ với các tiểu khu (khối phố) và xã nắm tình hình số công nhân viên chức và gia đình có kinh doanh thêm , để hướng dẫn làm ăn đúng đắn và hợp pháp. Đối với công nhân viên chức đã về hưu nay nghỉ mất sức mà đời sống có khó khăn , phải kinh doanh phục vụ , thì cũng phải kê khai đăng ký theo quy định chung , để có sự hướng dẫn làm ăn đúng đắn. Theo điều lệ các hình thức "tập đoàn , xưởng",... các cơ sở gọi là "xí nghiệp hợp tác, xí nghiệp nông cụ,cơ khí huyện"... không phải là xí nghiệp quốc doanh... đều phải tổ chức lại thành hợp tác xã và phải theo chế độ quản lý đối với hợp tác xã . Ngành quản lý của Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra lại các loại cơ sở , nhất là tổ , đối chiếu với các quy tắc hoặc điều lệ tổ chức Nhà nước đã ban hành, để chính thức công nhận tổ chức và chủ nhiệm (nếu là hợp tác xã ) hoặc tổ trưởng (nếu là tổ) ; phải xác nhận danh sách xã viên, tổ viên và lao động ngoài diện chính thức không để tình trạng lợi dụng danh nghĩa xã viên , tổ viên để làm ăn phi pháp , bóc lột nhân công, lôi kéo thợ kỹ thuật của Nhà nước... Phải xác nhận số thiết bị , máy móc , công cụ sản xuất chủ yếu , có hóa đơn mua hợp lệ hoặc tự trang tự chế ; trường hợp không có chứng từ hợp lệ thì phải có giấy chứng nhận của tiêu thụ (khối phố), của xã chứng thực là tài sản hiện có và đang sử dụng tại cơ sở kinh doanh ; xác nhận , các loại nguyên liệu , hàng hóa chủ yếu có chứng từ hợp pháp , đề phòng cơ sở móc ngoặc lấy cắp của Nhà nước , hoặc chứa chấp , tiêu thụ của gian. Các đơn khai xin đăng ký phải có chính quyền cơ sở nhận thực mới có giá trị. Các giấy chứng nhận hình thức tổ chức kinh doanh phải có ngành chủ quản nhận thực. Tiến hành việc kiểm tra , xác nhận nay là một cuộc đấu tranh phức tạp , cần có việc phối hợp với các ngành liên quan để có sự nhất trí khi đưa ra hội đồng
xét cấp giấy phép đăng ký. 4. Việc xét cấp giấy phép kinh doanh phải theo đúng các nguyên tắc của điều lệ: Phải đảm bảo chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước không được đăng ký kinh doanh nhưng ngành nghề Nhà nước cấm những mặt hàng Nhà nước thống nhất quản lý thu mùa và phân phối... Về điều kiện hành nghề : theo điều 3 của Điều lệ , người kinh doanh các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật (sử dụng động cơ máy , sửa chữa đồng hồ , đồ điện , ruộm) phải được ngành hữu quan kiểm tra tay nghề. Người kinh doanh ngành nghề có quan hệ đến sức khỏe của nhân dân ta (ăn uống , chế biến thực phẩm...) phải được cơ quan y tế cấp huyện trở lên kiểm tra xem có bệnh truyền nhiễm không. Người kinh doanh ngành nghề có quan hệ đến trật tự trị an (như đánh máy chữ , in rô-nê -ô, khắc dấu , làm huy chương , huy hiệu , phù hiệu...) phải được cơ quan Công an cấp huyện trở lên chứng nhận có đủ điều kiện làm nghề. Đối với loại kinh doanh có liên quan đến an toàn vệ sinh , trật tự chung thì cần điều tra tiện ,bất tiện , hỏi ý kiến nhân dân ở tiểu phố (khối phố) ở xã. Việc cấp giấy phép kinh doanh có liên quan đến nhiều chính sách , chế dộ quản lý của Nhà nước , để riêng một ngành xét và quyết định sẽ dẫn đến tình trạng phân tán không bảo đảm cho chính quyền địa phương thống nhất quản lý được các mặt , nhất là quản lý lao động. Vì vậy việc cấp giấy phép phải do UBHC huyện hoặc khu phố , thị xã quyết định ; giúp việc ủy ban có một hội đồng mà chức năng nhiệm vụ đã được quy định trong các điều 5,6. Các ngành chủ quản phải thẩm tra các cơ sở xin đăng ký kinh doanh , đề xuất ý kiến trước Hội đồng. Ngành lao động phải xem xét đối chiếu với tiêu chuẩn và kế hoạch điều tuyển lao động , ngành công an phải kiểm tra lại hộ khẩu và đối chiếu với tiêu chuẩn nếu làm các nghề : khắc dấu , in rô-nê-ô , đánh máy chữ v.v... các chức vụ chủ nhiệm , tổ trưởng ; ngành tài chính soát lại nội dung các đơn xin đăng ký cho các ngành, nghề sản xuất hàng hóa , cần mời ngành thương nghiệp (công ty kinh doanh mặt hàng đó) tham gia, để xem xét phương hướng giải quyết nguyên liệu và phương thức nắm nguồn hàng cũng như tiêu thụ sản phẩm theo đúng chính sách , chế độ của Nhà nước. - Hội đồng đăng ký xét duyệt từng cơ sở. Khi chuyển nghề nào hoặc không cho phép kinh doanh mặt hàng nào thì cần có kế hoạch mở rộng mạng lưới quốc doanh thay thế. Nghề hoặc mặt hàng nào chưa có điều kiện thay thế thì cấp giấy phép tạm thời. Ngành lao động giải quyết công việc làm cho những người phải chuyển nghề, trước hết cho những người đời sống có nhiều khó khăn. - Hội đồng cần xem xét kỹ về tổ chức và quản lý của hợp tác xã và tổ trước khi xét cấp đăng ký ; nếu không đúng là quan hệ sản xuất tập thể thì phải được ngành chủ quản tổ chức lại theo đúng quy tắc hoặc điều lệ tổ chức hiện hành. Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm lập sổ biên bản các cuộc họp của Hội đồng ghi các ý kiến thống nhất hoặc khác nhau ý kiến quyết định của Chủ tịch hội đồng, số cơ sở được phép và số không được phép đăng ký , để các thành viên ký vào biên bản từng cuộc họp.
Căn cứ biên bản này , cơ quan tài chính viết các giấy phép , trình Chủ tịch hội đồng ký để phát cho đương sự , hoặc trả đơn cho những cơ sở không được phép đăng ký , có nói rõ lý do không cho đăng ký. Để khỏi trở ngại đến việc làm ăn của nhân dân (trường hợp mới ra kinh doanh), thời hạn từ ngày nhận đơn đến khi giải quyết giấy phép , nói chung không được kéo dài quá một tháng ; nếu cần thêm thời gian để điều tra xác minh thì phải báo cáo cho người xin đăng ký được biết. Các cơ sở kinh doanh phải đóng khung tờ giấy phép đăng ký và treo khung đó ở cửa hàng ở trụ sở kinh doanh tại chỗ thuận tiện nhất cho cán bộ Nhà nước và nhân dân trông thấy để có thể kiểm tra bất cứ lúc nào. Tất cả các cơ sở kinh doanh được cấp giấy phép theo thể thức cũ (kể cả những cơ sở mới được đăng ký từ đầu năm 1974 đến nay) nếu muốn tiếp tục kinh doanh đều phải xin đăng ký lại theo điều lệ và theo sự hướng dẫn trong thông tư này. Việc kê khai đăng ký kinh doanh phải làm xong trong quý III/1974 và bảo đảm có hiệu lực.
Sau khi đăng ký phải phối hợp các ngành liên quan tổ chức một đợt kiểm tra , động viên khuyến khích các cơ sở chấp hành tốt nội dung đăng ký; đối với các cơ sở không chịu kê khai hoặc không có đăng ký mà kinh doanh hoặc kinh doanh sai đăng ký thì phải xử lý nghiêm minh theo điều lệ đăng ký kinh doanh và các chế độ luật lệ có liên quan như điều lệ thuế công thương nghiệp , quyết định số 75 -CP ngày 8/4/1974 về quản lý lương thực.v.v... nhất thiết không để trường hợp không kê khai hoặc không được phép mà vẫn kinh doanh như hiện nay. 5. Chế độ báo cáo thỉnh thị : Việc thi hành Điều lệ đăng ký kinh doanh có liên quan đến nhiều từng lớp nhân dân , nhiều loại cơ sở kinh tế nhất là liên quan đến công ăn việc làm của đông đảo người làm nghề công thương , cho nên đòi hỏi phải có sự chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới. Trong việc đăng ký năm 1974 này UBHC các tỉnh, thành phối phải báo cáo kế hoạch thi hành lên Thủ tướng Chính phủ thường kỳ báo cáo kết quả công việc đã làm và có những khó khăn trở ngại gì , thì xin ý kiến (báo cáo gửi làm 2 bản , 1bản gửi ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 228). Hàng tháng từng ngành có liên quan phải báo cáo và thỉnh thị lên ngành dọc cấp trên; ngành Tài chính phải báo cáo tình hình tổng hợp cho Bộ Tài chính.