THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Quyết định số 39 - CT ngày 31/1/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc
xét duyệt kết quả thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1982. Thi hành quyết định số 39 - CT ngày 31/1/1983 về việc
xét duyệt kết quả thực hiện kế hoạch Nhà nươc năm 1982, về mặt trích lập các quỹ xí nghiệp từ nguồn lợi nhuận, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm cụ thể dưới đây: 1/ Việc trích lập các quỹ xí nghiệp, (quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ khuyến khích phát triển sản xuất) của các đơn vị sản xuất kinh doanhv.v... Phải căn cứ vào kết quả xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1982 theo đúng những quy định trong quyết định số 39 - CT ngày 31/1/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Về mức trích lập các quỹ xí nghiệp, các đơn vị cơ sở phải thi hành đúng những quy định trong thông tư số 21 TC/CNA ngày 1/9/1982 và các thông tư khác của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành quyết định 146 - HĐBT ngày 25/8/1982 về việc sửa đổi bổ sung quyết định số 25 CP ngày 21/1/1981 của Hội đồng Chính phủ về phân phối lợi nhuận của các ngành công nghiệp, thương nghiệp vật tư, bưu điện, sản xuất nông nghiệp quốc doanh hàng không dân dụngv.v... 2/ Khi xác định mức độ hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1982 để làm căn cứ trích lập các quỹ xí nghiệp, các đơn vị cơ sở phải kiểm tra chặt chẽ việc hoàn thành ba chỉ tiêu chủ yếu theo đúng những quy định dưới đây: a) Đối với chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá thực hienẹ, phải loại trừ: phần giá trị sản lượng hàng hoá tiêu thụ không đúng đối tượng quy định trong kế hoạch được giao do đó không hoàn thành kế hoạch giao nộp sản phẩm cho Nhà nước; và loại trừ phần giá trị sản lượng hàng hoá không hoàn thành kế hoạch xuất khẩu do những nguyên nhân chủ quan của xí nghiệp như do không đảm bảo chất lượng và danh mục mặt hàng xuất khẩu. Ví dụ: Chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện, theo kế hoạch là 10 triệu đồng, trong đó xuất khẩu chỉ đạt 1,5 triệu đồng do không đảm bảo chất lượng mặt hàng xuất khẩu. Khi xét duyệt hoàn thành kế hoạch để làm căn cứ trích quỹ xí nghiệp chỉ được tính 9,5 triệu đồng (10 tr - 0,5 tr), bằng giá trị khối lượng xây lắp các công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành bàn giao; đối với ngành cung ứng vật tư thương nghiệp lấy chỉ tiêu giá trị khối lượng vật tư hàng hoá mua vào bán ra v.v... Giá cả dùng để tính giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện phải đồng nhất với giá cả lúc lập kế hoạch. b) Đối với chỉ tiêu sản lượng sản phẩm chủ yếu theo chỉ tiêu chất lượng quy định cần kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm; loại trừ phần sản phẩm không đảm bảo chất lượng quy định. Đối với những đơn vị cơ sở sản xuất một loại sản phẩm như than, xi măng v.v... phải đối chiếu với kế hoạch phẩp cấp và chủng loại sản phẩm để xem xét việc thực hiện chỉ tiêu này. Đối với ngành xây lắp nhận thầu, lấy chỉ tiêu danh mục công trình hoặc hạng mục công trình chủ yếu hoàn thành bàn giao đảm bảo chất lượng và đúng thời hạn đúng thời hạn quy định. Đối với ngành thương nghiệp vật tư lấy chỉ tiêu mặt hàng chủ yếu đã được giao v.v... làm căn cứ đánh giá việc hoàn thành kế hoạch. c) Chỉ tiêu lợi nhuận và các khoản nộp Ngân sách Nhà nước được tính toán trên cơ sở lợi nhuận thực hiện và số phát sinh của các khoản thu nộp khác. Nếu số lợi nhuận nộp thấp hơn số lợi nhuận thực hiện thì lấy số lợi nhuận nộp; nếu số lợi nhuận nộp cao hơn số thực hiện do chiếm dụng các nguồn vốn khác thì lấy số lợi nhuận thực hiện. Về khấu hao cơ bản, nếu số nộp thấp hơn số trích thì lấy số nộp, nhưng số nộp cao hơn số trích thì lấy số trích để đánh giá việc hoàn thành kế hoạch thu nộp. Trên cơ sở xác định mức hoàn thành kế hoạch của từng khoản thu nộp ngân sách mà xác định mức độ hoàn thành kế hoạch của tổng số lợi nhuận và các khoản thu nộp để làm căn cứ trích lập các quỹ xí nghiệp như trong thông tư 21 TC/CNA ngày 1/9/1982 về phân phối lợi nhuận đã quy định. 3/
Căn cứ để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch và 3 chỉ tiêu chủ yếu nói trên làm cơ sở cho việc trích lập các quỹ xí nghiệp của các đơn vị cơ sở là kế hoạch giao đầu năm hoặc kế hoạch điều chỉnh trước ngày 30/9/1982 do Bộ trưởng hoặc Tổng cục trưởng giao (nếu là các đơn vị của trung ương) hoặc do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, đặc khu giao (nếu là các đơn vị địa phương). Các mức chỉ tiêu kế hoạch nói trên do Bộ chủ quản, UBND tỉnh, thành phố, đặc khu giao cho các cơ sở và liên hiệp các xí nghiệp thấp hơn tổng số thu nộp ghị trong kế hoachj ngân sách do Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ và tỉnh, thành phố thì Bộ Tài chính sẽ xem xét cụ thể từng trường hợp nhằm đảm bảo việc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch và trích lập quỹ xí nghiệp một cách hợp lý. Khi xác định mức độ hoàn thành kế hoạch của các chỉ tiêu chủ yếu nói trên cần đảm bảo sự thống nats về mặt giá cả giữa thực hiện với kế hoạch, nội dung và phương pháp tính toán. Các khoản chênh lệch giá, các khoản tiền phạt và các khoản lợi nhuận khác thu được không phải là kết quả phấn đấu chủ quan của xí nghiệp (như do không nghiêm chỉnh chấp hành giá cả quy định v.v...) đều phải nộp hết vào ngân sách Nhà nước, không được tính vào chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch để xác định mức trích lập các quỹ xí nghiệp. 4/ Quỹ lương dùng để trích quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi là quỹ lương thực hiện cả năm 1982 như quyết định 39 CT ngày 31/1/83 và các thông tư khác của Bộ Tài chính đã quy định. Nghĩa là phải loại trừ các khoản chi bất hợp lý trong quỹ lương như lương sản phẩm hỏng, lương ngừng việc vượt định mức cho phép, các khoản chi sai chính sách chế độ tiền lương hiện hành v.v... Đối với những đơn vị cơ sở được khoán quỹ lương, phải loại trừ ra khỏi quỹ lương khoán phần tiền lương tăng lên do kế hoạch quỹ lương tính không sát, không hợp lý, như: do nâng đơn giá chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm, do nâng cấp bậc công việc hoặc nâng chi phí lao động trên đơn vị sản phẩm, do tỉnh sai kế hoạch quỹ lương v.v... Cần xác định riêng quỹ lương của từng phần kế hoạch: kế hoạch sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng, kế hoạch sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm và kế hoạch sản xuất phụ làm căn cứ tính quỹ xí nghiệp. Trường hợp do đặc điểm sản xuất phức tạp không hạch toán riêng quỹ lương phần kế hoạch sản xuâts bằng vật tư tự tìm kiếm thì phải xác định quỹ lương theo tỷ lệ tương ứng với sản phẩm làm ra của từng phần kế hoạch. Những đơn vị cơ sở nào trong năm 1982 đã chuyển sang áp dụng chế độ trả lương theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện (thay cho chỉ tiêu gia trị tổng sản lượng) thì phải loại trừ phần tiền lượng tính theo giá trị tổng sản lượng trước đây đến nay mới đưa vào tiêu thụ để tránh tình trạng tính quỹ lương 2 lần. Đối với những ngành chưa có hướng dẫn riêng về phân phối lợi nhuận cho phù hợp với đặc điểm kinh tế ngành mình như xây lắp nhận thầu, các Viên hạch toán kinh tế v.v... thì tạm thời áp dụng mức trích 18% quỹ lương thực hiện cả năm đối với các Viện hạch toán kinh tế; 24% đối với các công ty xây lắp nhận thầu của công nhân viên sản xuất phần kế hoạch Nhà nước cân đối vật tư chủ yếu, cho đến khi có thông tư mới hướng dẫn việc phân phối lợi nhuận ở các ngành đó. Còn các quy định khác như: tỷ lệ phân phối giữa các quỹ, mức khống chế v.v... áp dụng như những quy định trong thông tư 21 TC/CNA ngày 1/9/1982 đối với ngành công nghiệp. 5/ Trong khi chưa có chế độ quy định về việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính tập trung tại các cơ quan cấp trên của đơn vị cơ sở (phần vượt mức khống chế 6 tháng lương thực tế) Bộ Tài chính quy định tạm thời nội dung sử dụng quỹ dự trữ tài chính năm 1982 là: Các cơ quan cấp trên được dùng quỹ này để giúp đỡ kịp thời về tài chính cho các đơn vị cơ sở khi gặp khó khăn tạm thời do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguyên vật liệu v.v... theo nguyên tắc có hoàn lại. Các cơ quan cấp trên không được sử dụng quỹ dự trữ tài chính để khen thưởng cho các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể về quỹ dự trữ tài chính tập trung. Đối với cơ quan Liên hiệp các xí nghiệp, việc xét trích lập quỹ khen thưởng và phúc lợi vẫn áp dụng theo thông tư 02 TC/VP ngày 18/1/1980 của Bộ Tài chính nay bổ sung và sửa đổi như sau: Mức trích lập quỹ khen thưởng của Liên hiệp các xí nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoàn thành kế hoạch Nhà nước của các xí nghiệp trực thuộc, nghĩa là mức trích của cơ quan liên hiệp xí nghiệp được xác định bằng mức khen thưởng bình quân đầu người của cả 3 phần kế hoạch của tất cả công nhân viên thuộc các xí nghiệp trực thuộc nhân (x) với số công nhân viên của cơ quan liên hiệp. 6. Số liệu làm căn cứ để xét duyệt để kết quả thực hiện kế hoạch (kể cả kế hoạch bổ sung và kế hoạch sản xuất phụ), nhất thiết phải là số liệu thống kê kế toán chính thức được tính theo phương pháp quy định của Nhà nước. Trường hợp xí nghiệp chưa có báo cáo quyết toán chính thức cả năm 1982 thì được lấy báo cáo quyết toán 11 tháng cộng với số ước tính tháng 12 để tính mức trích tạm thời. Mức trích chính thức các quỹ xí nghiệp năm 1982 của các đơn vị cơ sở sẽ được tính toán cụ thể sau khi xét duyệt quyết toán chính thức năm 1982. Những đơn vị cơ sở đã tạm trích các quỹ xí nghiệp vào dịp trước tết âm lịch, nay phải tính lại mức trích theo đúng những quy định trên đây. Những đơn vị nào 9 tháng đầu năm 1982 đã tạm trích lập các quỹ xí nghiệp háng quý của từng phần kế hoạch A, B, C theo những quy định cũ, nay cũng phải tính toán lại theo đúng những quy định trong thông tư 21 TC/CNA ngày 1/9/1982 và các thông tư hướng dẫn phân phối lợi nhuận các ngành khác của Bộ Tài chính theo quyết định 146 ngày 25/8/1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Trường hợp xí nghiệp đã trích quá mức quy định thì phải hoàn trả lại bằng cách trừ vào số được trích trong năm 1983, nếu thiếu được trích thêm bằng mức trích được duyệt. 7. Thông tư này hướng dẫn việc thi hành quyết định 39 CT ngày 31/1/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc xét duyệt kết quả thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1982. Bổ sung và hướng dẫn thêm những quy định hiện hành về phân phối lợi nhuận, được áp dụng cho việc xét trích lập quỹ xí nghiệp năm 1982 của các đơn vị cơ sở thuộc các ngành kinh tế quốc doanh.