THÔNG TƯ Hướng dẫn về chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp đối với các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu T.W. Thi thành Quyết định 76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tạm thời quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp đối với các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu trung ương như sau: I. NHỮNG
CĂN CỨ VỀ KINH TẾ TÀI CHÍNH LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP CÁC QUỸ: A.
Căn cứ về kế hoạch: 1/ Kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh : là kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu kế hoạch được Nhà nước cân đối vật tư, tiền vốn, ngoại tệ. Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu phải lập phương án giá mặt hàng trình Bộ chủ quản và Bộ Tài chính duyệt mức trợ cấp hoặc mức nộp ngân sách số chênh lệch ngoại thương phát sinh. 2/ Kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu hướng dẫn gồm: a. Kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu uỷ thác cho các ngành, các địa phương theo quy định tại điều 5 của Quyết định số 117-HĐBT hngày 15-6-1985 của Hội đồng Bộ trưởng. b. Kế hoạch kinh doanh bổ sung ngoài chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước của các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu đã được quy định tại điều 16 của Quyết định số 117-HĐBT ngày 15-6-1985 của Hội đồng Bộ trưởng. Việc thực hiện kế hoạch này phải đảm bảo các điều kiện như đã quy định trong thông tư Liên Bộ Ngoại thương, Tài chính số 36-TTLB Ngoại thương - Tài chính ngày 5-3-1984 "Hướng dẫn các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu Trung ương kinh doanh bổ sung ngoài chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước". 3/ Các phần kế hoạch nói trên (bao gồm kế hoạch theo chỉ tiêu pháp lệnh, kế hoạch xuất nhập khẩu uỷ thác và kế hoạch kinh doanh bổ sung) phải được xây dựng từ đầu năm trong kế hoạch kinh doanh - kỹ thuật - tài chính thống nhất của các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và sẽ là căn cứ để xét duyệt việc thực hiện kế haọch hàng năm. Đối với kế hoạch kinh doanh ngoài chỉ tiêu pháp lệnh được Nhà nước khuyến khích trong mức phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp. B.
Căn cứ về tài chính: 1. Đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải tổ chức hạch toán rõ ràng, chính xác riêng từng phần kế hoạch nói trên. Trong trường hợp đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu liên doanh với một đơn vị cơ sở sản xuất khác để làm hàng xuất khẩu, hoặc đơn vị tự kinh doanh cả hai khâu sản xuất và xuất nhập khẩu thì trong cả hai trường hợp này đơn vị vẫn phải hạch toán riêng từng khâu sản xuất , khâu xuất nhập khẩu và phân phối lợi nhuận riêng theo nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh trong từng khâu. 2. Đối với kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, mỗi đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu có nhiệm vụ thực hiện tỷ giá kế hoạch định mức chung đã được duyệt của đơn vị mình. Việc "khoán" tỷ giá định mức khóm hàng, mặt hàng và cơ chế khoán sẽ được hướng dẫn ở một văn bản riêng. 3. Đối với một số mặt hàng xuất khẩu được nước ngoài ưu đãi giá thì tỷ giá và kim ngạch được xác định theo nguyên tắc: khi xây dựng kế hoạch nếu khoản ưu đãi giá đó đã thể hiện trong giá hợp đồng thì khi thực hiện không được cộng vào kim ngạch cũng như trong việc xác định tỷ giá thực hiện, ngược lại nếu khi xây dựng kế hoạch phần ưu đãi giá chưa được thể hiện trong giá hợp đồng thì khi thực hiện được cộng phần ưu đãi giá này vào kim ngạch và cũng là căn cứ để xác định tỷ giá thực hiện. II. KẾ HOẠCH HOÁ LỢI NHUẬN CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU. 1. Kết quả tài chính của kinh doanh xuất nhập khẩu được thể hiện ở chênh lệch ngoại thương. Chênh lệch ngoại thương là khoản chênh lệch giữa giá mua hàng xuất khẩu (hoặc giá bán hàng nhập khẩu cho các tổ chức kinh tế trong nước) với giá bán (hoặc giá mua hàng nhập khẩu) bằng ngoại tệ quy ra tiền Việt nam theo tỷ giá kết toán nội bộ do Nhà nước quy định. 2. Lợi nhuận định mức của hoạt động xuất nhập khẩu là một bộ phận của chênh lệch ngoại thương được Nhà nước dành cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu để các tổ chức này thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và để trích lập các quỹ xí nghiệp (bao gồm quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khuyến khích phát triển ngoại thương). Lợi nhuận định mức được hạch toán vào giá thành hàng xuất nhập khẩu. Lợi nhuận định mức được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh số xuất nhập khẩu cho từng Tổng công ty, Công ty xuất nhập khẩu. Hàng xuất khẩu tính trên doanh số bán hàng theo điều kiện FOB quy ra đồng Việt Nam theo tỷ giá kết toán nội bộ do Nhà nước quy định. Hàng nhập khẩu tính trên doanh số mua hàng nhập khẩu CIF quy ra đồng Việt nam theo tỷ giá kết toán nội bộ do Nhà nước quy định. Tỷ giá kết toán nội bộ hiện hành là 18đ/RCN.USD (trường hợp Nhà nước điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ thì lợi nhuận định mức sẽ được tính toán quy định lại cho phù hợp). Mức lợi nhuận định mức cho hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu quy định cụ thể cho từng Tổng công ty, Công ty xuất nhập khẩu quy định cụ thể cho từng Tổng Công ty, Công ty xuất nhập khẩu như sau: Tỷ lệ lợi nhuận định mức quy định cho hàng xuất khẩu(%)hàng nhập khẩu(%) 1. Tổng công ty XNK Khoáng sản 2. " Tạp phẩm 3. " Việt Nam 4. " Thủ công mỹ nghệ 5. " Mây tre 6. " Máy 7. " Thiết bị toàn bộ 8. Công ty nhập khẩu thiết bị Dầu khí 9. Công ty XNK Tổng hợp I 10. " Tổng hợp II 11. " Hàng dệt 12. " May mặc 13. " Hàng công nghiệp nhẹ 14. " Rau quả 15. " Nông sản 16. " Lương thực 17. Tổng Công ty xuất nhập khẩu Công nghiệp thực phẩm 18. Công ty XNK Y tế 19. " Thuỷ sản 20. " Vật liệu xây dựng 21. " Than 22. " Điện tử 23. " Sản phẩm Cơ khí 24. Tổng Công ty xuất nhập khẩu lâm sản 25. " Súc sản gia cầm 26. Ban Tiếp nhận viện trợ TW 0.73 0.50 0.30 1.00 1.00 0.91 - 1.87 0.30 1.00 0.50 0.65 0.81 0.90 1.00 0.50 0.75 0.50 0.60 0.50 0.70 0.40 1.00 0.90 0.90 -0.035 0.36 0.61 1.00 0.41 0.05 0.05 0.02 0.30 - 0.3 0.65 0.81 0.41 1.00 0.16 0.70 0.27 0.55 0.32 0.65 0.26 - 0.90 0.82 0.05 Tỷ lệ lợi nhuận định mức nói trên được quy định cho phần kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh. Những đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu cha quy định lợi nhuận định mức trong thông tư này (do mới thành lập hoặc chưa quy định) phải làm việc trực tiếp với Bộ Tài chính để xác định tỷ lệ lợi nhuận định mức cho phù hợp hơn. Đối với hàng xuất nhập khẩu uỷ thác lợi nhuận định ức được áp dụng theo thông tư số 03-NgT/XNK ngày 11/1/1984 của Bộ Ngoại thương: về chiế độ uỷ thác xuất nhập khẩu hàng hoá là 0,5% quy định chung cho cả hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu (hàng xuất khẩu tính trên doanh số bán FOB, hàng nhập khẩu tính trên doanh số mục CIF quy ra đồng Việt Nam theo tỷ giá kết toán nội bộ do Nhà nước quy định). Đối với kế hoạch kinh doanh bổ sung ngoài chỉ tiêu pháp lệnh, lợi nhuận định mức được tính gấp đôi lợi nhuận định mức đối với hàng xuất nhập khẩu trong chỉ tiêu pháp lệnh. 3. Lợi nhuận kế haọch của các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu bằng doanh số kh bán hàng xuất khẩu theo điều kiện FOB và doanh số kế hoạch mua hàng nhập khẩu theo điều kiện CIF nhân với tỷ lệ lợi nhuận định mức quy định cho doanh số xuất và doanh số nhập. 4. Lợi nhuận thực hiện của các tổ chức kinh doanh xuất nhập bằng doanh số thực hiện về bán hàng xuất nhập khẩu theo điều kiện FOB và doanh số thực hiện về mua hàng nhập khẩu theo điều kiện CIF nhân với tỷ lệ lợi nhuận định mức quy định cho hàng xuất hàng nhập. Doanh số thực hiện kế hoạch và hàng nhập khẩu ở đây được xác định bằng cách lấy số lượng thực hiện nhân với đơn giá kế hoạch được duyệt. 5. Lợi nhuận vượt kế hoạch là phần chênh lệch giữa lợi nhuận thực hiện và lợi nhuận kế hoạch. 6. Lợi nhuận vượt định mức: lợi nhuận vượt định mức đạt được do nỗ lực chủ quan của bản thân các tổ cức kinh doanh xuất nhập khẩu: Đối với hàng nhập khẩu là số ngoại tệ giảm được giác mua so với giá định mức của Bộ Ngoại thương duyệt. Cụ thể đối với khu vực 1, giá định mức phải là giá được Bộ Ngoại giao duyệt cho năm kế hoạch, đối với khu ực 2, giá định mức phải lá giá được Bộ Ngoại thương duyệt cho từng hợp đồng từng chuyến hàng. Mức độ giảm giá mua hàng nhập khẩu của các Tổng công ty, Công ty xuất nhập khẩu được xác định theo phương pháp sau đây: Số tiền thực tế nhập khẩu theo chỉ tiêu pháp lệnh Giá thực tế đ.v KDXNK ký hợp đồng (R,US$) Đơn giá định mức bộ Ngoại thương duyệt (R,US$) Tổng trị giá (R,US$) Giảm giá Tên hàng Theo giá định mức Bộ Ngoại thương duyệt Theo giá thực tế ký hợp đồngSố tiền (R,US$)Tỷ lệ A 1 2 3 4=(3x1) 5=(3x2)6(5-4)7 1. Phân Urê 2. Sắt thép 3. Xe Zin ... 150 250 10.000 ... 145 240 9.700 ... 10.000 tấn 1.000 tấn 100 cái ... 1.500.000 250.000 1.000.000 ... 1.450.000 240.000 970.000 ...50.000 10.000 30.000 ...3.33 4.00 3.00 ... Tổng cộng 2.750.000 2.660.00090.0003.7 Khi xác định tỷ lệ giảm giá mua hàng nhập khẩu so với giá định mức của Bộ Ngoại thương duyệt cần loại trừ yếu tố biến động khách quan của giá cả thị trường quốc tế. Đối với hàng xuất khẩu là việc thực hiện tỷ giá kinh doanh thấp hơn tỷ giá kế hoạch định mức chung. Trong việc xác định lợi nhuận vượt định mức, để phản ảnh đúng yếu tố chất lượng kinh doanh và đánh giá đúng đắn kết quả tỷ giá thực hiện. Cần loại trừ các yếu tố khách quan như các sự biến động, thay đổi về cơ cấu mặt hàng về giá cả của Nhà nước và về giá cả trên thị trường quốc tế. Muốn vậy, phải so sánh tỷ giá thực hiện với tỷ giá kế hoạch tĩnh lại theo cùng một cơ cấu thực hiện của từng nhóm hàng, mặt hàng để xác định được tỷ giá chung theo cách tính như sau: Mặt hàng Số lượng thực hiện Giá vốn kế hoạch (1) Giá vốn thực hiện Giá bán kế hoạch (1) Giá bán thực hiện Tỷ giá kế hoạch Tỷ giá thực hiện A 1 2 3 4 5 6=2/4 7=3/5 1.Mặt hàng A 2.Mặt hàng B .... Tổng Cộng: (1) Tính lại theo cùng một cơ cấu thực hiện: Tỷ giá thực hiện Kim ngạch thực hiện Tỷ giá kế hoạch tính lại Kim ngạch thực hiện Lợi nhuận vượt định mức 7. Từ quý 4 năm trước hoặc chậm chất là quý 1 của năm kế hoạch, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải lập kế hoạch kinh doanh - kỹ thuật - tài chính, trong đó có phần kế hoạch phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp, có chia ra từng quý.
Sau khi kế hoạch này được cấp có thẩm quyền duyệt, đơn vị đăng lý với cơ quan Ngân hàng phục vụ đơn vị mình. III. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN: 1. Lợi nhuận thực tế đạt được của đơn vị kinh doanh xuất nhập bao gồm các khoản lợi nhuận của các phần kế hoạch kinh doanh như đã nói tại mục I phần A trong thông tư này. Đối với hoạt động sản xuất phụ, lợi nhuận thực tế đạt được được xác định trên cơ sở tổng doanh thu trừ đi các khoản: giá thành thực tế được duyệt, thu quốc doanh hoặc thuế và khoản thu về chênh lệch giá (nếu có). 2. Phân phối lợi nhuận: a - Lợi nhuận thực hiện trong phạm vi của số lợi nhuận kế hoạch được duyệt của phần kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh được phân phối theo tỷ lệ 50% nộp ngân sách Nhà nước, 50% để lại đơn vị, (trừ hai đơn vị là công ty xuất khập khẩu tổng hợp I và công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp II thuộc Bộ Ngoại thương sẽ phân phối theo quy định tại điểm dưới đây) phần để lại đơn vị được phân phối như sau: - Trước hết dành cho quỹ phát triển ngoại thương theo tỷ lệ 0,45% trên doanh số kế hoạch bán hàng xuất khẩu FOB và 0,015% trên doanh số kế hoạch mua hàng nhập khẩu CIF quy ra đồng Việt Nam theo tỷ giá kết toán nội bộ do Nhà nước quy định. Trường hợp đơn vị không hoàn thành doanh số của kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu thì chỉ được trích quỹ phát triển ngoại thương theo tỷ lệ nói trên trên doanh số thực hiện.
Phần lợi nhuận còn lại sau khi đã trích quỹ phát triển ngoại thương được phân phối cho hai quỹ khen thưởng và phúc lợi, trong đó khoảng 2/3 cho quỹ khen thưởng, 1/3 cho quỹ phúc lợi.
Phần trong kế hoạch:
Phần vượt kế hoạch:
Phần lợi nhuận để lại đơn vị thuộc các mục b, c, d, đ được phân phối cho ba quỹ theo các tỷ lệ sau đây:
Phần lợi nhuận còn lại sau khi đã trích quỹ phát triển ngoại thương được phân phối cho hai quỹ khen thưởng và phúc lợi, trong đó khoảng 2/3 cho quy khen thưởng, 1/3 cho quỹ phúc lợi.