THÔNG TƯ Hướng dẫn bổ sung việc lập tổng quyết toán ngân sách nhà nước năm 1986 Việc lập tổng quyết toán thu, chi Ngân sách Nhà nước năm 1986 về cơ bản vẫn thực hiện theo Thông tư số 32-TC/NSNN ngày 20/11/1981 và công văn số 142 TC/NSNN ngày 6/3/1986 của Bộ Tài chính. Để việc lập quyết toán thu, chi Ngân sách Nhà nước năm 1986 được trung thực, chính xác; Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung thêm một số điểm dưới đây: I. NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN LÀM TRONG THỜI GIAN CHỈNH LÝ QUYẾT TOÁN. 1/ Thanh toán các khoản tạm ứng, cho vay, đi vay: a) Đối với khoản tạm ứng kinh phí cho các cơ quan hành chính - sự nghiệp để in tài liệu, ấn chỉ ... bán cho các cơ quan, đơn vị thu tiền, hoặc chuẩn bị vật tư, hàng hoá trước cho năm 1987 ... các cơ quan, đơn vị phải dùng tiền bán các sản phẩm thu được, hoặc nguồn kinh phí năm 1987 nộp hoàn trả quỹ ngân sách năm 1986 số tiền đã được cơ quan tài chính tạm ứng. Nếu
xét thấy cần bổ sung kinh phí năm 1986 cho đơn vị, cơ quan tài chính làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang cấp phát năm 1986 theo loại, khoản, hạng, mục của mục lục Ngân sách Nhà nước. Trường hợp phải chuyển sang năm 1987, cơ quan tài chính dùng tồn quỹ ngân sách năm 1987 cấp tạm ứng cho đơn vị và thu hồi tạm ứng năm 1986. b) Vốn đầu tư XDCB của ngân sách cấp phát chuyển sang Ngân hàng đầu tư và xây dựng trong năm 1986, nếu số vốn cấp phát của ngân hàng lớn hơn so với số vốn của ngân sách tạm ứng, thì dùng tồn quỹ ngân sách năm 1986 (nếu có) chuyển trả cho ngân hàng và quyết toán vào năm 1986. Trường hợp tồn quỹ ngân sách năm 1986 không còn thì dùng nguồn thu của ngân sách năm 1987 để thanh toán và quyết toán vào chi ngân sách năm 1987. - Một số địa phương nợ tiền vay của Ngân sách Trung ương trong năm 1986 phải trả hết các khoản tiền vay trước khi lên quyết toán ngân sách địa phương năm 1986. 2/ Đối chiếu, điều chỉnh số liệu thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1986. Để đảm bảo quyết toán phản ánh đúng thực chất số thu, chi Ngân sách Nhà nước, đề nghị các Bộ, các ngành, các địa phương hướng dẫn các đơn vị trực thuộc tiến hành như sau: a) Từng đơn vị, xí nghiệp lập "Bảng đối chiếu số thu nộp ngân sách Nhà nước" năm 1986 theo loại, khoản, hạng, mục của mục lục Ngân sách Nhà nước, sau đó đối chiếu với ngân hàng Nhà nước nơi đơn vị giao dịch và phải được ngân hàng xác nhận (theo mẫu đính kèm thông tư này). b) Cơ quan Tài chính, Ngân hàng Nhà nước cơ sở,
sau khi đối chiếu số liệu thu nộp Ngân sách năm 1986 của các đơn vị, cần làm những công việc cụ thể sau đây: - Nếu thấy số thu của đơn vị nộp chênh lệch so với số liệu tổng hợp trong báo cáo thu Ngân sách Nhà nước 12 tháng năm 1986, phải làm thủ tục điều chỉnh lại, bảo đảm số liệu khớp đúng giữa cơ quan tài chính, ngân hàng và đơn vị. Đồng thời, tổng hợp báo cáo quyết toán thu Ngân sách Nhà nước cả năm 1986 gửi lên cơ quan tài chính và ngân hàng Nhà nước cấp trên. - Soát xét lại tỉ lệ điều tiết các khoản thu giữa các cấp ngân sách, thực hiện đúng tỉ lệ điều tiết các nguồn thu đã được quy định tại công văn số 354 TC/NSĐP ngày 28/5/1986 của Bộ Tài chính, nhất là đối với khoản thu về thuế hải quan. Địa phương nào đã điều tiết sai phải thực hiện theo đúng Chỉ thị số 5320 /V13 ngày 24/11/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, trích tồn quỹ ngân sách địa phương trả lại ngân sách trung ương số tiền đã điều tiết sai về thuế hải quan trong năm 1986; các khoản thu về chênh lệch giá II và xuất nhập khẩu của địa phương nếu đã đưa vào thu khác, phải hạch toán lại theo đúng loại, khoản, hạng, mục của mục lục ngân sách Nhà nước và điều tiết 20% cho Ngân sách Trung ương theo chế độ hiện hành.
Sau khi nhận và kiểm tra tổng quyết toán thu Ngân sách Nhà nước năm 1986 của các tỉnh, thành phố; nếu phát hiện tỉ lệ điều tiết sai các khoản thu, hoặc hạch toán sai mục lục ngân sách Nhà nước, làm giảm thu của ngân sách Trung ương, Bộ Tài chính sẽ trừ vào các khoản trợ cấp cân đối ngân sách (nếu có) hoặc kinh phí uỷ quyền về vốn XDCB tập trung chuyển về cho địa phương trong năm 1987 tương ứng với số thu ngân sách địa phương đã điều tiết sai. - Đôn đốc các đơn vị nộp kịp thời, đầy đủ các khoản thu tồn đọng của năm 1986 vào ngân sách Nhà nước trong quý I/1987. Trường hợp các đơn vị cố tình chiếm dụng nguồn thu của ngân sách, cơ quan tài chính kịp thời ra lệnh thu và ngân hàng Nhà nước thực hiện trích tài khoản của đơn vị nộp vào ngân sách và thực hiện phạt vi phạm chế độ thu nộp ngân sách theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trung ương. c) Các Bộ và đơn vị chủ quản ở địa phương tổng hợp báo cáo quyết toán thu chi của các đơn vị trực thuộc, có phân tích theo loại, khoản, hạng, mục của mục lục Ngân sách Nhà nước, đối chiếu với cơ quan tài chính, ngân hàng đồng cấp và gửi cho Bộ Tài chính (đối với các đơn vị Trung ương) và Sở Tài chính tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (đối với các đơn vị thuộc địa phương quản lý). 3/ Xử lý số tiền mặt và hiện vật còn lại cuối năm 1986 của các cơ quan, đơn vị hành chính - sự nghiệp như sau : - Các cơ quan, đơn vị (kể cả quân đội, công an nhân dân) hướng dẫn các đơn vị trực thuộc kết hợp việc kiểm kê tài sản vào 0 giờ ngày 1/1/1987, phải kiểm kê số vật tư, hàng hoá, văn phòng phẩm, vật rẻ tiền mau hỏng và số tiền mặt tồn quỹ đến 31/12/1986 thuộc kinh phí ngân sách cấp phát trong năm 1986 và các năm trước còn lại chưa sử dụng hết; lập biên bản ghi rõ số lượng và trị giá của từng loại vật tư, hàng hoá, số tiền mặt tồn quỹ đến 31/12/1986, gửi cơ quan tài chính và cơ quan ngân hàng nơi đơn vị giao dịch. Đồng thời chủ động rút hạn mức kinh phí năm 1987 để nộp giảm cấp phát kinh phí đã được ngân sách cấp phát theo biên bản kiểm kê nói trên(khi đơn vị được cấp phát kinh phí ghi vào loại, khoản, hạng, mục nào của mục lục ngân sách Nhà nước thì chứng từ nộp giảm cấp kinh phí năm 1987 cũng phải ghi đúng theo loại, khoản, hạng, mục đó). Sau đó gửi biên bản kiểm kê lên cơ quan chủ quản cấp trên chậm nhất vào ngày 28/2/1987 , có xác nhận của ngân hàng cơ sở là đơn vị đã nộp giảm số kinh phí thừa năm 1986. Các cơ quan chủ quản tổng hợp gửi cơ quan tài chính đồng cấp chậm nhất vào ngày 31/3/1987 . - Nếu số vật tư hàng hoá tồn kho đến 31/12/1986 thuộc nguồn kinh phí năm 1986 mua vào và sau khi đơn vị đã nộp giảm cấp phát kinh phí 1987, thì quyết toán chi của đơn vị phải thể hiện đúng theo công thức sau đây: Tổng số kinh phí được cấp năm 1986 = Số quyết toán thực chi năm 1986 + Số nộp giảm cấp phát năm 1987 - Trường hợp số vật tư, hàng hoá ... tồn kho đến 31/12/1986 là vật tư, hàng hoá ... của các năm trước còn lại và đã được quyết toán vào năm 1985 (sau khi đã xác định được), thì dùng kinh phí năm 1987 nộp vào tài khoản thu ngân sách năm 1987, ghi vào loại IV, khoản 80, hạng 2 - Thu hồi các khoản chi về hành chính - sự nghiệp (coi như dùng kinh phí năm 1987 mua lại số vật tư, hàng hoá của năm 1985 còn thừa nhưng đã quyết toán rồi). Số tiền nộp thu hồi các khoản chi năm trước = Tổng trị giá vật tư hàng hoá tồn kho đến 31/12/1986 - Tổng trị giá số vật tư hàng hoá tồn kho đã nộp giảm cấp phát kinh phí năm 1987 Cách xử lý nói trên áp dụng cho tất cả các đơn vị dự toán trung ương (kể cả các đơn vị quốc phòng - an ninh) và địa phương. Đến thời hạn quy định trên đây, các đơn vị không gửi báo cáo kết quả xử lý đến cơ quan tài chính đồng cấp như đã hướng dẫn trong Thông tư này, thì kinh phí quý II/1987 của các đơn vị chỉ được cấp phát khoản tiền lương, phụ cấp lương, sinh hoạt phí và học bổng; khi nào nhận được báo cáo nói trên cơ quan tài chính mới cấp kinh phí "chi khác". 4/ Quyết toán các khoản thu, chi ngoài ngân sách Trong năm 1986, nếu đơn vị và địa phương nào đã sử dụng nguồn thu của các cơ sở sản xuất - kinh doanh, mà thực chất là nguồn thu của ngân sách Nhà nước để bổ sung nguồn kinh phí chi tiêu cho đơn vị, hoặc chuyển từ số thu của ngân sách địa phương vào các tài khoản ngoài ngân sách (tài khoản 629, 648, 649, 791 ... ) để làm quỹ phúc lợi của tỉnh, thành phố nhằm giải quyết đời sống cho cán bộ công nhân viên của địa phương ... thì trong thời gian chỉnh lý quyết toán, đều phải đưa vào thu, chi trong ngân sách và phản ánh đầy đủ trên báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1986. 5/ Xử lý số kết dư ngân sách địa phương năm trước chuyển sang năm 1986. Các địa phương căn cứ vào thông báo của Bộ Tài chính về việc xét duyệt tổng quyết toán ngân sách địa phương năm 1985, để chuyển một phần số kết dư ngân sách năm 1985 vào quỹ dự trữ tài chính của địa phương; số kết dư đưa vào thu ngân sách địa phương năm 1986 quyết toán vào loại V, khoản 83 theo mục lục ngân sách Nhà nước. 6/ Số dư các tài khoản 795, 796 (tiểu khoản 01, 02, 03, 04) Thuộc niên độ năm 1986 sau ngày 31/3/1987 (hết thời gian chỉnh lý quyết toán) ngân hàng Nhà nước các cấp làm thủ tục chuyển về ngân hàng Trung ương (Vụ quản lý quỹ ngân sách Nhà nước). II. QUYẾT TOÁN CÁC KHOẢN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1986. 1/ Khoản thu về lãi xuất nhập khẩu và chênh lệch giá II của địa phương không được để ngoài ngân sách , phải hạch toán và phản ánh đầy đủ vào quyết toán thu ngân sách địa phương năm 1986. 2/ Địa phương nào còn có phát sinh trong năm 1986 khoản thu khuyến khích giao nộp nông sản, thực phẩm thì quyết toán vào thu ngân sách địa phương loại IV, khoản 82, hạng 3. 3/ Khoản thu về chênh lệch giá tồn kho vật tư, hàng hoá kiểm kê ngày 1/10/1985 và theo quyết định kiểm kê do điều chỉnh giá của Nhà nước trong năm 1986 quyết toán vào mục 3 (thu chênh lệch giá hàng tồn kho) mục lục ngân sách Nhà nước đã bổ sung tại thông tư số 02 TC/NSNN ngày 10/3/1986 của Bộ Tài chính và theo loại, khoản, hạng của mục lục ngân sách Nhà nước tương ứng. 4/ Các khoản trợ cấp của ngân sách Trung ương chuyển về cho địa phương trong năm 1986, sau khi đã đối chiếu, kiểm tra, phải quyết toán đúng như số liệu đính kèm công văn số 05 TC/NSNN ngày 14/1/1987 của Bộ Tài chính, để đảm bảo số liệu khớp đúng giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. 5/ Khoản chi ủng hộ các tỉnh biên giới phía Bắc, các tỉnh bị lũ lụt (nếu có) thì quyết toán vào chi khác - loại VI, khoản 66, hạng 6. Các địa phương nhận được khoản tiền và ngoại tệ hoặc hiện vật của các tỉnh, thành phố và các tổ chức quốc tế ủng hộ đều phải tính theo mức giá chỉ đạo bán kinh doanh thương nghiệp (đối với vật tư hàng hoá) và theo tỷ giá kết toán nội bộ 18đ/Rúp - Đô la (đối với ngoại tệ) để quyết toán vào thu ngân sách địa phương - loại IV, khoản 82, hạng 3 của mục lục ngân sách Nhà nước. 6/ Chi bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ ổn định của Nhà nước, phần ngân sách địa phương cấp bù qua ngành hàng cho cán bộ, công nhân viên của các ngành thuộc địa phương quản lý quyết toán vào loại XI "chi bù chênh lệch giá hàng bán cung cấp", khoản 84 (bù giá lương thực), khoản 85 (bù giá thịt lợn), khoản 86 (bù giá các mặt hàng khác), khoản 88 (bù tiền thay hiện vật). 7/ Các địa phương thực hiện chi bù giá vào lương: đối với các cơ quan xí nghiệp (không thực hiện hạch toán chi bù giá vào lương, vào giá thành sản phẩm, phí lưu thông) thuộc địa phương quản lý; Sở Tài chính các tỉnh, thành phố dùng nguồn kinh phí bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng cho cán bộ, công nhân viên chức đã được bố trí trong kế hoạch chi bù giá của ngân sách địa phương năm 1986 và nguồn thu chênh lệch giá các mặt hàng đưa bù giá vào lương (chênh lệch giữa giá đưa vào lương và giá vốn hợp lý) là nguồn thu bổ sung để cấp bù giá vào lương cho cán bộ công nhân viên, thì quyết toán như sau: - Khoản thu về chênh lệch giá (giữa giá các mặt hàng bán kinh doanh thương nghiệp bù vào lương và giá vốn hợp lý) do các đơn vị bán hàng nộp thì ghi vào loại IX - "thu chênh lệch giá 6 mặt hàng cung cấp", khoản 120 - "thu về chênh lệch giá hàng cung cấp", hạng 1 - "thu của ngành lương thực", hạng 2 - "thu của ngành nội thương". - Khoản chi bù giá ghi vào loại XI - "Chi bù chênh lệch giá hàng bán cung cấp", khoản 89 - "bù giá vào lương". - Số tiền bù giá lương thực vào lương trên mức giá vốn hợp lý, địa phương dùng nguồn thu chênh lệch giá lương thực để cấp bù giá vào lương cho cán bộ, công nhân viên. Các địa phương đã hạch toán vào thu, chi ngân sách địa phương năm 1986 thì khi lập quyết toán phải loại trừ ra khỏi quyết toán thu, chi ngân sách địa phương. - Đối với các cơ quan, xí nghiệp thuộc trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố (trừ lực lượng vũ trang) cũng thực hiện chi bù giá vào lương như cán bộ công nhân viên của địa phương; các Sở Tài chính quyết toán với Bộ Tài chính về kinh phí uỷ quyền bù giá vào lương. 8/ Khoản thu do các tổ chức sản xuất kinh doanh trích 60% quỹ lương cơ bản tính vào giá thành và phí lưu thông trích nộp vào ngân sách Nhà nước và các khoản thu chênh lệch giá 6 mặt hàng bán theo định lượng (do giá kinh doanh thương nghiệp cao hơn giá vốn); khoản chi bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng (cho ngành hàng hoặc cho các đối tượng); các địa phương đã hạch toán vào thu, chi ngân sách năm 1986 thì khi lập quyết toán phải loại trừ ra khỏi quyết toán thu, chi ngân sách địa phương như đã hướng dẫn tại Thông tư số 34 TC/TNVT ngày 25/10/1986 của Bộ Tài chính. 9/ Số vốn đầu tư XDCB về trụ sở, nhà ở của các cơ quan hành chính, cơ quan Đảng, đoàn thể quyết toán vào chi kiến thiết kinh tế - loại I, khoản 26 và các hạng thích hợp của mục lục ngân sách Nhà nước; không được quyết toán vào chi quản lý hành chính - loại IV, hoặc chi khác - loại VI. 10/ Số liệu quyết toán chi tiết các khoản thu, chi ngân sách đến loại, khoản, hạng, mục theo mục lục ngân sách Nhà nước tuyệt đối không được quyết toán số âm (-). III. BIỂU MẪU LẬP VÀ THỜI HẠN GỬI TỔNG QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1986. 1/ Báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước phải theo đúng các mẫu biểu quy định tại Nghị định số 175/CP ngày 28/10/196... của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước; thông tư số 27 TC/TDT ngày 2/11/1966 của Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán Tổng kế toán; Quyết định số 03 TC/TDT ngày 30/3/1972 của Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán đơn vị dự toán và mẫu biểu tổng quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành. 2/ Ngoài các biểu số liệu quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước; các Bộ, các ngành, các địa phương phải có bản thuyết minh quyết toán bằng lời văn kèm theo . Yêu cầu của bản thuyết minh quyết toán phải nói rõ tình hình thực hiện kế hoạch tài chính và ngân sách của các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở; tình hình sản xuất -kinh doanh, lao động, tiền lương, cung cấp vật tư, năng lượng, nguyên liệu, giá thành sản phẩm và phí lưu thông, tiêu thụ sản phẩm; lỗ lãi và phân tích nguyên nhân; tình hình quản lý kinh tế - tài chính của ngành, địa phương và đơn vị, xí nghiệp; phân tích các loại vốn bằng tiền, tài sản cố định, tài sản lưu động, công suất sử dụng máy móc, thiết bị, vòng quay của vốn lưu động, các quỹ xí nghiệp; tình hình chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật giá cả, chế độ tiền lương tiền thưởng v.v... 3/ Để Bộ Tài chính thông báo quyết toán năm 1986 được sớm, yêu cầu các địa phương gửi kèm theo quyết toán năm 1986 bản phân tích xử lý số kết dư ngân sách địa phương năm 1986; số kết dư dự kiến bổ sung quỹ dự trữ tài chính của địa phương; số kết dư ghi thu vào ngân sách địa phương năm 1987 (ngân sách cấp tỉnh; ngân sách cấp quận, huyện). 4/ Thời hạn gửi báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1986 Để đảm bảo cho Bộ Tài chính có thời gian kiểm tra, xem xét, duyệt và tổng hợp lập tổng quyết toán ngân sách Nhà nước kịp trình Hội đồng Bộ trưởng và Quốc hội, yêu cầu các ngành, các địa phương, các đơn vị dự toán từ cơ sở đến cấp chủ quản phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh về thời gian lập và gửi quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1986 quy định như sau: - Các đơn vị dự toán địa phương, các Phòng Tài chính quận, huyện, thị xã gửi quyết toán cho Sở Tài chính tỉnh, thành phố chậm nhất là ngày 28/2/1987 . - Các đơn vị dự toán trung ương cấp III hoặc cấp II (nếu không có cấp III) gửi quyết toán cho Bộ chủ quản chậm nhất là ngày 28/2/1987 . - Các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan Đảng, đoàn thể Trung ương gửi báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1986 cho Bộ Tài chính chậm nhất là ngày 31/3/1987 . - Các Sở Tài chính tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương gửi quyết toán thu, chi ngân sách địa phương năm 1986 về Bộ Tài chính chậm nhất là ngày 30/4/1987 . Đơn vị và địa phương nào gửi quyết toán chậm, cơ quan tài chính địa phương và Bộ Tài chính tạm hoãn cấp phát một phần hay toàn bộ kinh phí năm 1987 cho đến khi nào nhận được báo cáo quyết toán mới cấp phát tiếp kinh phí. Trên đây là một số điểm hướng dẫn bổ sung về báo cáo quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 1986. Đề nghị các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương tổ chức hướng dẫn các đơn vị trực thuộc lập quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1986 theo đúng chế độ của Nhà nước và các quy định trong thông tư này. Đối với những đơn vị mới được thành lập có hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước trong năm 1986, đề nghị các Bộ, các ngành cử cán bộ trực tiếp đến giúp đỡ để bảo đảm lập và gửi quyết toán cho Bộ Tài chính kịp thời và đáp ứng được yêu cầu nói trên. Trong quá trình thực hiện, nếu có điểm nào chưa rõ, đề nghị phản ánh hoặc trao đổi trực tiếp với Bộ Tài chính để có ý kiến giải quyết.