THÔNG TƯ Hướng dẫn chỉ thị 154/TTG ngày 4/4/1994 của Thủ Tướng Chính phủ về chế độ quản lý thu tiền chuyển quyền sử dụng đất và bán các tài sản khác thuộc sở hữu Nhà Nước Thi hành điểm 3 Chỉ thị số 154/TTg ngày 4/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách nhằm tăng thu và tiết kiệm chi Ngân sách, chống tham nhũng và buôn lậu; Qua thời gian thực hiện Thông tư số 60 TC/TCT ngày 16/7/1993; Bộ Tài chính hướng dẫn tiếp chế độ quản lý thu tiền chuyển quyền sử dụng đất và bán các tài sản khác của Nhà nước theo điểm 3, Chỉ thị 154/TTg như sau: I / ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG THU, NỘP TIỀN CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BÁN CÁC TÀI SẢN KHÁC THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC 1/ Tất cả các tài sản cố định thuộc sở hữu Nhà nước, bao gồm : đất đai, rừng tự nhiên, nhà và vật kiến trúc khác, máy móc thiết bị . v . v đã chuyển quyền hoặc bán quyền sử dụng (dưới đây gọi chung là bán quyền sử dụng tài sản), thanh toán dưới mọi hinh thức (tiền, vàng, ngoại tệ, đổi tài sản khác hoặc thanh toán công trình xây dựng cơ bản, góp vốn liên doanh kể cả liên doanh với nước ngoài) đều phải xác định được giá trị thực tế của tài sản chuyển nhượng, số tiền thu về chuyển nhượng tài sản phải nộp vào NSNN quản lý tập trung thống nhất theo hướng dẫn tại Thông tư này. Tài sản cố định thuộc sở hữu Nhà nước là những tài sản được tạo lập bằng nguồn vốn NSNN đầu tư hoặc vốn có nguồn gốc của NSNN theo chế độ hiện hành. Một số loại tài sản cụ thể xác định như sau - Đất đai, rừng tự nhiên hiện đang do các đơn vị sử dụng hoặc quản lý, không phân biệt là đơn vị sản xuất kinh doanh hay không sản xuất kinh doanh, đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý và được coi như tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. - Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước áp dụng theo hướng dẫn tại mục I Thông tư số 06 LB/TT ngày 10/2/1993 của Liên Bộ Xây dựng - Tài chính. Nhà và kiến trúc khác dùng để làm việc và sản xuất kinh doanh được xây dựng bằng vốn NSNN đầu tư và vốn có nguồn gốc của NSNN (kể cả nhà do Nhà nước tịch thu khi áp dụng chính sách cải tạo, nhà do các tổ chức quốc tế viện trợ cho Chính phủ v . v . .) đều là nhà thuộc sở hữu Nhà nước. 2/ Tất cả các cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang, xí nghiệp, công ty, Tổng công ty, các doanh nghiệp v . v . . . (dưới đây gọi chung là đơn vị) đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất trước khi có Luật đất đai (mới), bán quyền khai thác sản phẩm rừng tự nhiên, bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước như đã nêu ở điểm 1 mục này, đều phải nộp Ngân sách Nhà nước số tiền thu về bán quyền sử dụng tài sản quy định tại Thông tư này, bao gồm các đối tượng chủ yếu sau đây: a) Các đơn vị chuyển quyền sử dụng đất (kể cả đất do các đơn vị sản xuất kinh doanh quản lý), bán quyền khai thác sản phẩm rừng tự nhiên (bán cây đứng), bán nhà và các tài sản cố định khác thuộc sở hữu Nhà nước. b) Các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, thực hiện cấp quyền sử dụng đất và trực tiếp thu tiền của các tổ chức các nhân được cấp đất, phải nộp số tiền đã thu của các tổ chức cá nhân vào NSNN. Trường hợp cấp đất cho một tổ chức, cá nhân đã đầu tư vốn xây dựng công trình, thì đợn vị nhận quản lý sử dụng công trình bàn giao là đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất khi được cấp đất. c) Đất Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân để cho thuê hoặc để góp vốn liên doanh, có thu tiền một lần hoặc thu tiền dần dần theo thời gian, thì tổ chức cá nhân nhận đất là đối tượng nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp các ngành, đơn vị sản xuất kinh doanh phải nộp tiền bán tất cả các loại tài sản ở trên có nhu cầu cần thiết về vốn để tái đầu tư tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, thì phải lập luận chứng kinh tế kỹ thuật kèm theo dự toán báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định cho phép trong từng trường hợp cụ thể. Số vốn đề nghị bổ sung để tái đầu tư TSCĐ trong trường hợp này chỉ xác định trong nguồn tiền thu về bán TSCĐ (không được sử dụng khoản tiền thu do chuyển quyền sử dụng đất) thực hiện " ghi thu, ghi chi " thông qua NSNN quản lý. 3/ Trong khi chờ Chình phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành
Điều 79 Luật đất đai về thu tiền sử dụng đất khi giao đất, thì những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất khi được Nhà nước giao đất (dưới đây gọi chung là người nhận đất khi được Nhà nước giao đất) kể từ ngày Luật đất đai được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 có hiệu lực thi hành, thì người nhận đất khi được Nhà nước giao đất phải nộp tiền sử dụng đất vào NSNN, trừ những trường hợp sau đây:
a) Đất giao để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối;
b) Đất giao để sử dụng vào mục đích công cộng theo quy định tại
Điều 58 Luật đất đai;
c) Đất giao để sử dụng vào mục đích thăm dò, khai thác khoáng sản; di tích lịch sử; đất nghĩa trang, nghĩa địa và các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;
d) Đất do Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân thuê đã nộp tiền thuê đất vào NSNN;
e) Đất có nhà thuộc sở hữu Nhà nước bán cho người đang thuê đã tính tiền đất trong giá bán nộp NSNN;
g) Đất giao để chuyên sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh theo quy định tại
Điều 65 Luật đất đai.
Đất Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng vào các mục đích nêu tại tiết a, b, c, g điểm này nếu chuyển mục đích sử dụng thì phải nộp tiền sử dụng đất khi giao đất như các trường hợp khác.
Người nhận đất khi được Nhà nước giao đất đã nộp tiền sử dụng đất trực tiếp vào NSNN quy định tại điểm này, thì không phải nộp tiền sử dụng đất cho cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai.
II/ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỐ TIỀN THU VỀ CHUYỂN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BÁN CÁC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH KHÁC THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC PHẢI NỘP NSNN
Về nguyên tắc, tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước phải nộp toàn bộ vào NSNN. Tuy nhiên, để có nguồn bù đắp chi phí trong việc tổ chức thực hiện các thủ tục chuyển nhượng, thì các đối tượng phải nộp tiền chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản nêu tại điểm 2, mục I được tạm giữ lại 2% (hai phần trăm) tổng số tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản (trừ trường hợp cấp đất để thanh toán giá trị công trình hoàn thành bàn giao) để chi cho việc tổ chức điều tra, xác định giá, kê khai nộp tiền vào NSNN. Cuối năm các đơn vị phải quyết toán việc sử dụng số tiền được giữ lại (2%) với cơ quan Tài chính - Thuế trực tiếp quản lý đơn vị, nếu không chi hết thì phải nộp tiếp vào NSNN.
Số tiền Tổng số Số tiền chuyển quyền sử dụngtiền thu về chuyển quyền được giữ đất và bán tài sản phải = sử dụng đất và bán tài lại (2%) nộp NSNN sản Nhà nước
Phương pháp xác định số tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và tài sản Nhà nước như sau :
A/ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỐ TIỀN THU VỀ
CHUYỂN QUYỀN, CẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIAO ĐẤT:
1/ Về chuyển quyền sử dụng đất.
Tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất
=
Diện tích đất thực tế chuyển quyền sử dụng (m2)
x
Giá đất thực tế mỗi mét vuông(đ/m2)
Trong đó :
a) Diện tích đất thực tế chuyển quyền sử dụng phải phù hợp với diện tích bản đồ địa chính và sổ địa chính của lô đất đã giao cho cơ quan đó quản lý sử dụng.
b) Giá thực tế chuyển quyền sử dụng là giá thoả thuận giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, nhưng tối thiểu phải bằng bảng giá chuẩn do UBND tỉnh, thành phố quy định tại thời điểm đó hoặc căn cứ vào khung giá chuẩn tối thiểu quy định tại Nghị định 80/CP ngày 5/11/1993 của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư số 32/TT-LB của Liên Bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng Cục địa chính - Ban Vật giá Chính phủ.
Trong trường hợp Chính phủ có chính sách khác về chuyển quyền sử dụng đất, thì giá chuyển quyền sử dụng đất áp dụng theo quy định cụ thể của chính sách đó.
Trường hợp trước khi chuyển quyền sử dụng lô đất, mà đơn vị đã phải nộp NSNN tiền đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng theo Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990, trả tiền bồi thường thiệt hại hoa màu tài sản trên đất và dưới lòng đất, chi cho việc san lấp cải tạo đất v v .(nếu có) bằng nguồn vốn tự bổ sung của đơn vị (không thuộc vốn NSNN) thì được trừ vào tổng số tiền thu chuyển quyền sử dụng đất phải nộp NSNN, theo số thực tế đã chi có hoá đơn chứng từ hợp lệ chứng minh.
2/ Về chuyển quyền hoặc cấp quyền sử dụng đất để thanh toán giá trị công trình xây dựng cơ bản :
Về nguyên tắc, khi thực hiện đổi đất lấy một công trình hoặc một tài sản khác, thì phải xác định và ghi vào hợp đồng cụ thể diện tích, giá đất và dự toán, quyết toán giá trị công trình xây dựng hoặc trị giá thực tế tài sản trao đổi, bảo đảm sự trao đổi ngang giá hoặc tương đương. Phương pháp xác định số thu về chuyển quyền hoặc cấp quyền sử dụng đất trong trường hợp này cũng giống như trường hợp chuyển quyền sử dụng đất đã nêu tại điểm 1 mục này. Tuy nhiên, trong thực tế thời gian qua nhiều đơn vị không xác định cụ thể giá đất lúc thanh toán, vì vậy số tiền thu về chuyển quyền hoặc cấp quyền sử dụng đất được tính bằng (=) tổng giá trị công trình hoàn thành bàn giao theo quyết toán thực tế được duyệt (hoặc giá trị thực tế còn lại của tài sản lúc thanh toán)
3/ Trường hợp cấp đất để góp vốn liên doanh :
Tổng trị giá đất góp vốn
=
Diện tích đất thực tế được cấp để góp vốn
x
Giá mỗi mét vuông đất trong thời hạn góp vốn tại thời điểm giao đất (đ/m2)
Trong đó, giá mỗi mét vuông đất tại thời điểm giao đất là giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định căn cứ vào khung giá chuẩn tối thiểu của Chính phủ quy định tại Nghị định 80/CP ngày 5/11/1993 và Thông tư số 32 TT/LB Liên Bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng Cục địa chính - Uỷ ban vật giá Chính phủ, phù hợp với thực tế địa phương và nhân với số năm góp vốn.
4/ Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai thực hiện cấp đất trực tiếp thu tiền của các tổ chức cá nhân nhận đất, thì số tiền thu về cấp quyền sử dụng đất bằng (=) tổng số tiền thu của các tổ chức, cá nhân nhận đất trong kỳ, ghi trên hoá đơn chứng từ thu tiền (loại hoá đơn chứng từ do Bộ Tài chính phát hành).
Số tiền từng tổ chức, cá nhân nhận đất phải nộp cho cơ quan cấp đất xác định trên cơ sở diện tích đất thực tế đã cấp nhân với (x) mức thu mỗi mét vuông (đ/m2).
Trong đó, mức thu mỗi mét vuông do UBND tỉnh, thành phố quy định đối với từng loại đối tượng được cấp đất.
5/ Căn cứ tính thu tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất kể từ ngày Luật đất đai có hiệu lực thi hành (do người nhận đất trực tiếp nộp 100% vào NSNN) là diện tích đất thực giao và giá đất mỗi mét vuông (m2), tính theo công thức :
Tiền sử dụng đất phải nộp NSNN
=
Diện tích đất thực tế giao cho tổ chức, cá nhân
x
Giá mỗi mét vuông đất giao cho tổ chức, cá nhân (đ/m2)
Trong đó, giá mỗi mét vuông đất giao là giá do UBND tỉnh, thành phố quy định như đối với trường hợp cấp đất để góp vốn liên doanh đã nêu tại điểm 3 mục này.
B/ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TIỀN THU (GIÁ BÁN) VỀ
BÁN QUYỀN KHAI THÁC SẢN PHẨM RỪNG
TỰ NHIÊN, NHÀ VÀ CÁC TÀI SẢN KHÁC
1/ Tiền bán quyền khai thác sản phẩm rừng tự nhiên là tiền thu về bán cây đứng rừng tự nhiên do các đơn vi khai thác thực tế thanh toán cho đơn vị quản lý rừng, được phản ánh trên hoá đơn chứng từ thanh toán và sổ kế toán của đơn vị bán.
2/ Nhà và các tài sản khác, giá bán phải xác định trên cơ sở giá trị thực tế còn lại (chất lượng, giá trị sử dụng và trị giá vốn còn lại) của tài sản đó. Trong đó, giá bán nhà bao gồm giá trị thực tế còn lại của nhà và giá đất có nhà đó.
Về nguyên tắc, giá bán tài sản cố định tối thiểu phải bảo đảm bù đắp số vốn còn lại của tài sản cố định chưa khấu hao. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể sau đây giá bán được xác định thấp hơn trị giá vốn còn lại của tài sản là :
Trong trường hợp Nhà nước có quy định khác, thì giá bán tài sản được thực hiện theo quy định cụ thể của chính sách đó.
Tài sản đã xuống cấp hoặc đã lạc hậu về kỹ thuật, nhưng mức khấu hao chưa tương xứng với giá trị hao mòn của tài sản.
Đối với trường hợp này, Hội đồng định giá tài sản phải lập biên bản, ghi rõ nguyên nhân và các thành viên trong hội đồng phải ký xác nhận, kèm theo hồ sơ lý lịch tài sản.
Nếu một tài sản được tạo lập bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, thì phải xác định được tỷ trọng (%) nguồn vốn NSNN đầu tư ban đầu, để tính số tiền thu về bán tài sản phải nộp NSNN.
Ví dụ : Đơn vị A xây dựng một nhà xưởng, tổng giá trị công trình hoàn thành bàn giao 2.000 triệu đồng, trong đó riêng vốn NSNN cấp và vốn có nguồn gốc của NSNN là 1.000 triệu đồng (50%). Nay bán lại cho đơn vị khác 4.000 triệu đồng (trong đó giá nhà 1.000 triệu đồng, giá đất 3.000 triệu đồng), thì số tiền thu về bán nhà phải nộp NSNN, sau khi được tạm giữ lại 2% là :
[ 3.000 tr.đ + (1.000 x 50%)] x 98% = 3.430 tr.đ
III/ KÊ KHAI NỘP TIỀN CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ BÁN CÁC TÀI SẢN VÀO NSNN
1/ Kê khai :
a) Tất cả các đối tượng phải nộp tiền chuyển quyền sử dụng đất và bán các tài sản của Nhà nước nêu tại điểm 2 mục I Thông tư này phải kê khai nộp tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản Nhà nước từ ngày 1/1/1991 trở đi với cơ quan thuế tỉnh, thành phố nơi đơn vị đóng trụ sở, theo những nội dung chủ yếu sau đây :
Tên tài sản, diện tích đất, nhà, vị trí nhà đất thực tế chuyển nhượng hoặc đã cấp cho từng tổ chức cá nhân; diện tích rừng hoặc khối lượng lâm sản bán quyền khai thác.
Phẩm cấp, chất lượng tài sản, giá chuyển quyền hoặc giá bán đơn vị, tổng số tiền đã thu về chuyển quyền sử dụng (kể cả cấp) đất và bán tài sản. Nếu thanh toán theo hình thức trao đổi tài sản hoặc công trình hoàn thành bàn giao thì phải kê khai giá trị thực tế tài sản thanh toán hoặc giá trị công trình hoàn thành bàn giao theo quyết toán thực tế được duyệt.
Các khoản chi phí thực tế (kể cả khoản đã nộp NSNN) liên quan đến tài sản được giảm trừ số phải nộp (nếu có) và các chi phí cần thiết cho việc thực hiện công tác chuyển quyền hoặc bán tài sản.
Các hồ sơ liên quan như : hợp đồng kinh tế, lý lịch tài sản, quyết toán kèm theo biên bản nghiệm thu công trình, biên bản đánh giá tài sản của hội đồng, hoá đơn chứng từ thu tiền.
b) Tất cả các tổ chức, cá nhân nhận đất khi được Nhà nước giao đất nêu tại điểm 3 mục I Thông tư này phải kê khai với cơ quan thuế về diện tích, vị trí đất được giao và các hồ sơ được cấp đất khác liên quan (nếu có).
Thời hạn kê khai nêu tại điểm này chậm nhất là sau 1 tháng kể từ ngày ban hành Thông tư này đối với trường hợp chuyển quyền sử dụng đất hoặc bán tài sản trước ngày ban hành Thông tư này, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày chuyển nhượng đối với các trường hợp chuyển nhượng sau ngày ban hành Thông tư này.
2/ Thủ tục nộp tiền chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản :
a. Cơ quan thuế, sau khi nhận được tờ khai và các hồ sơ liên quan, thực hiện kiểm tra xác định giá, tính toán số phải nộp NSNN tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản và thông báo cho đơn vị biết để thực hiện.
b. Căn cứ vào thông báo của cơ quan thuế, đơn vị thực hiện nộp tiền (nếu là vàng và ngoại tệ thì phải quy đổi thành tiền Việt nam theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố tại thời điểm nộp) vào Kho bạc Nhà nước tại địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở, ghi vào chương, loại, khoản, hạng tương ứng, mục 30 mục lục NSNN nếu là tiền thu chuyển quyền sử dụng đất; mục 09 đối với tiền thu về bán quyền khai thác rừng tự nhiên, nhà và các tài sản khác.
Cơ quan thuế, cơ quan tài chính phối hợp với ngành chủ quản chỉ thực hiện giải quyết "ghi thi " Ngân sách Nhà nước theo chương, loại, khoản, hạng tương ứng, mục 30 mục lục NSNN đối với tiền thu chuyển quyền sử dụng đất, mục 09 đối với tiền thu về bán nhà và tài sản khác, "ghi chi " cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho đơn vị theo chương, loại, khoản, hạng tương ứng mục 53 mục lục NSNN đối với các trường hợp cụ thể sau đây:
Chuyển quyền sử dụng đất hoặc cấp quyền sử dụng đất để thanh toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao. Số tiền được "ghi thu, ghi chi" bằng giá trị công trình hoàn thành theo quyết toán được duyệt đối với trường hợp giá trị công trình bằng hoặc nhỏ hơn số tiền cấp quyền sử dụng đất. Nếu số tiền cấp quyền sử dụng đất lớn hơn giá trị công trình thì đơn vị nhận quyền sử dụng đất phải nộp số chênh lệch lớn hơn vào NSNN.
Đơn vị được Chính phủ (hoặc Bộ Tài chính) chấp thuận cho được sử dụng tiền bán tài sản cố định để bổ sung vốn đầu tư XDCB nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, thì số tiền được " ghi thu, ghi chi" bằng số vốn XDCB được Chính phủ (hoặc Bộ Tài chính) quyết định cấp bổ sung, nhưng tối đa chỉ bằng số tiền thu về bán tài sản của đơn vị phải nộp NSNN (không kể số tiền chuyển quyền sử dụng đất). Nếu số tiền thu về bán tài sản lớn hơn số vốn được cấp bổ sung do Chính phủ (hoặc Bộ Tài chính) quyết định, thì đơn vị phải nộp tiếp số còn lại vào NSNN.
Đối với đơn vị bán tài sản trước ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 154/ TTg và hướng dẫn tại Thông tư này, nếu đã sử dụng vào tái đầu tư TSCĐ theo quy định tại
Điều 2 Quyết định số 332/HĐBT ngày 23/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), thì nay phải thực hiện thủ tục " ghi thu, ghi chi " qua NSNN. Đồng thời yêu cầu cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm quản lý vốn theo đúng chế độ của Bộ Tài chính quy định và kể từ ngày có Chỉ thị 154 /TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì các đơn vị không được tự sử dụng khoản tiền thu về bán tài sản khi chưa có quyết định của Chính phủ (hoặc Bộ Tài chính). Số tiền bán tài sản cố định còn lại chưa sử dụng, đơn vị phải nộp hết vào NSNN như đã nêu ở trên.
Trường hợp, trước đây khi bán tài sản đơn vị đã phải nộp thuế doanh thu, thuế lợi tức vào NSNN, thì nay được giảm trừ vào số tiền bán tài sản còn phải nộp đối với số tiền thuế đã nộp Ngân sách.
Các tổ chức Nhà nước được giao đất để dùng đất góp vốn liên doanh (kể cả liên doanh với nước ngoài), thì Ngân sách Nhà nước thực hiện " ghi thu " tiền sử dụng đất, đồng thời " ghi chi " cấp vốn đầu tư XDCB cho đơn vị nhận đất để góp vốn theo chương, loại, khoản, hạng tương ứng. Yêu cầu đơn vị phải quản lý vốn theo đúng chế độ quy định. Riêng trường hợp Nhà nước cấp đất cho cá nhân, công ty hoặc doanh nghiệp tư nhân v . v . . để góp vốn liên doanh thì các đối tượng này phải nộp tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất như đối tượng nêu tại điểm 3 mục I Thông tư này.
3/ Tổ chức, cá nhân nhận đất khi được Nhà nước giao đất kể từ ngày Luật đất đai (mới) có hiệu lực thi hành, trực tiếp nộp tiền sử dụng đất vào Kho bạc Nhà nước theo thông báo của cơ quan thuế, ghi vào chương, loại, khoản, hạng tương ứng mục 30 mục lục NSNN. Cơ quan thu tiền sử dụng đất phải giao biên lai thu tiền (biên lai do Bộ Tài chính phát hành) cho người nộp tiền. Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đất đai chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi người nhận đất đã thực hiện đầy đủ các thủ tục nộp tiền sử dụng đất với cơ quan thuế.
4/ Những khoản tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản Nhà nước từ năm 1991 đến nay, thực hiện kiểm tra phát hiện và truy thu trong năm 1994 được coi là số thu NSNN năm 1994, thực hiện điều tiết như sau :
Điều tiết cho Ngân sách địa phương 100% số tiền thu về chuyển quyền sử dụng đất, tiền bán quyền khai thác sản phẩm rừng tự nhiên.
Tiền bán nhà và tài sản khác do đơn vị nộp thuộc cấp nào quản lý thì hoàn vốn toàn bộ cho Ngân sách cấp đó.
5/ Toàn bộ khoản thu chuyển quyền sử dụng đất và bán tài sản đã nộp NSNN, đơn vị phải kế toán giảm vốn NSNN cấp tương ứng với số vốn còn lại của tài sản đang giao cho đơn vị quản lý.
Đối với những khoản thu NSNN về chuyển nhượng tài sản, nhưng thực hiện " ghi thu, ghi chi ", thì đơn vị phải ghi tăng vốn NSNN cấp tương ứng với giá trị TSCĐ được đầu tư và thực hiện quản lý vốn và tài sản theo đúng chế độ Bộ Tài chính quy định.
III/ XỬ LÝ VI PHẠM
Tất cả mọi tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển quyền quyền sử dụng hoặc nhận quyền sử dụng đất, bán quyền khai thác sản phẩm rừng tự nhiên (bán cây đứng), bán các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, nếu không khai báo hoặc khai báo không trung thực, không đúng quy định, không nộp hoặc nộp thiếu số tiền phải nộp NSNN theo quy định tại Thông tư này, thì ngoài việc phải bị truy thu đủ số tiền bán tài sản phải nộp, còn bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 18/10/1992 của Chính phủ " về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế " và Thông tư số 11TC/TCT ngày 24/2/1993 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định trên.
IV/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1/ Cơ quan thuế các cấp có nhiệm vụ tổ chức thu, hướng dẫn các đơn vị kê khai, nộp các khoản thu về bán tài sản theo đúng quy định tại Thông tư này. Đồng thời phối hợp với cơ quan tài chính và các cơ quan liên quan ở địa phương thực hiện tốt việc " ghi thi, ghi chi" qua NSNN số tiền chuyển quyền sử dụng đất và các tài sản của các đơn vị.
2/ Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, phối hợp với cơ quan chủ quản và đơn vị tổ chức thực hiện quản lý vốn NSNN cấp thông qua hình thức " ghi thu, ghi chi" tiền bán tài sản theo đúng chế độ quản lý vốn của Bộ Tài chính quy định.
3/ Đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan thuế, tài chính, quản lý đất đai, xây dựng và các cơ quan liên quan khác ở địa phương, tiến hành kiểm tra việc thi hành chỉ thị 154/TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với tất cả các đơn vị trên địa bàn theo hướng dẫn tại Thông tư này.
4/ Đề nghị các Bộ, Uỷ ban Nhà nước và các cơ quan khác trực thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương của Đảng, đoàn thể hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện đúng Chỉ thị 154 /TTg của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này.
5/ Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Những quy định tại Thông tư số 60 TC/TCT ngày 16/7/1993 thực hiện theo Thông tư này. Các quy định trước đây trái với Chỉ thị 154/TTg và Thông tư này đều bãi bỏ.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các ngành, địa phương phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết ./.