CHỈ THỊ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH V/v xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2003 Thực hiện chỉ thị 14/2002/CT-TTg ngày 28/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2003; UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc các sở, thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã cần khẩn trương xây dựng kế hoạch năm 2003 của ngành, địa phương mình theo những yêu cầu và nội dung sau đây: I. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2003 Năm 2003 là năm thứ 3 triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII và kế hoạch 5 năm 2001 – 2005. Đây là năm bản lề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra cho những năm tới. Trên cơ sở mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm, kết quả thực hiện kế hoạch năm 2001 và 6 tháng đầu năm 2002, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2003 là: Tích cực khai thác, huy động và quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ cao và ổn định, có bước chuyển mạnh về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tính năng động và khả năng hội nhập kinh tế, từng bước khắc phục nguy cơ tụt hậu; tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển SXKD và nâng cao hiệu quả nền kinh tế. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong hoạt động kinh tế – xã hội; giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện mức sống nhân dân; phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Kế hoạch năm 2003 cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: 1. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2001 và năm 2002 , tạo các điều kiện để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn trong những năm tiếp theo. - Tiếp tục thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, đặc biệt đặt lên hàng đầu vấn đề chất lượng và hiệu quả kinh tế theo hướng tăng năng suất lao động và tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích nuôi trồng, phát triển ngành nghề; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước. Từng bước thực hiện điều chỉnh quỹ đất “dồn điền đỗi thửa” để xây dựng, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh tập trung (cao su, mía lạc…) phục vụ cho công nghiệp chế biến. Phát triển mạnh chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản; phát triển lâm nghiệp, kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng, cải tạo vườn tạp …phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của từng vùng. - Khuyến khích ứng dụng các kết quả tiến bộ khoa học và công nghệ mới, trước hết là khâu sản xuất giống cây, con; chế biến nông hải sản nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tổ chức tốt các khâu dịch vụ giống, kỹ thuật, phân bón, vốn cho SXKD; chú trọng phát triển sản xuất và tiêu thụ đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế và có thị trường tiêu thụ tốt. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, đi đôi với chú trọng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn để tạo thêm việc làm mới, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu lao động trong nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn. Chủ động phòng chống thiên tai, đối phó với tình hình diễn biến xấu của thời tiết. - Phát triển công nghiệp tập trung vào sản xuất những sản phẩm từ nguồn nguyên liệu tại địa phương, có khả năng cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ. Tiếp tục đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức, quản lý SXKD và trình độ vận hành của đội ngủ kỷ sư và công nhân lành nghề. Làm tốt hơn nữa công tác tiếp thị, tìm kiếm mở rộng thị trường để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. - Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN, đẩy mạnh cổ phần hoá theo đề án được duyệt. Tăng cường công tác quản lý, tháo gỡ khó khăn thúc đẩy SXKD phát triển cho các doanh nghiệp. - Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ: vận tải, bưu chính viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng, kiểm toán tư vấn pháp luật, khoa học công nghệ…; đẩy mạnh hơn nữa công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường đặc biệt là thị trường nông thôn, miền núi; phát huy vai trò của các đơn vị thương mại quốc doanh trong việc phục vụ các mặt hàng chính sách xã hội cho đồng bào miền núi; ký kết hợp đồng kinh tế để đầu tư ứng trước phục vụ sản xuất và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Tiếp tục chú trọng đầu tư phát triển du lịch, phát triển các loại dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ. 2. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh phát triển sản xuất chế biến các mạt hàng có lợi thế để xuất khẩu. Mở rộng cơ cấu, chủng loại và nâng cao số lượng, chất lượng hàng hoá xuất khẩu; tăng nhanh tỷ lệ hàng qua chế biến, tập trung vào những mặt hàng có ưu thế của tỉnh như chế biến thuỷ, hải sản đông lạnh, súc sản, cao su, hàng lâm sản; xuất khẩu lao động… Tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường; tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, đặc biệt là các doanh nghiệp về sự cấp bách và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay, gắn liền với quá trình tồn tại, đổi mới phát triển của chính bản thân các doanh nghiệp. Tích cực tranh thủ các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Chủ động xây dựng các dự án đầu tư mới và có chính sách thông thoáng, hấp dẫn hơn thu hút các nguồn vốn khác cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội. 3. Tiếp tục tăng nhanh nguồn thu ổn định, vững chắc trên cơ sở thúc đẩy phát triển SXKD của các thành phần kinh tế; tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại và chống thất thu trên các lỉnh vực, ngành nghề còn thất thu. Tập trung ưu tiên cho đầu tư phát triển theo hướng: - Chú trọng các chương trình, dự án có vị trí quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng chung của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương. - Đảm bảo cân đối ngân sách để thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể và đẩy mạnh CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết TW5; thực hiện 4 chương trình kinh tế trọng điểm. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đóng góp cho ngân sách ngày càng tăng. - Đổi mới một bước và nâng cao hiệu quả của việc quản lý điều hành ngân sách, nhằm tạo chủ động cho các huyện, thị như: giao chỉ tiêu sản xuất lương thực, mía, lạc, cao su… đi liền với hỗ trợ kinh phí trợ giá giống trực tiếp cho huyện, thị… đảm bảo cho việc cung ứng giống cho nông dân đạt chất lượng và kịp thời… - Thực hiện tốt các chính sách xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo; tăng chi cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, Khoa học- Công nghệ. Thực hiện triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước. - Tăng cường quản lý, lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tín dụng; nhất là đối với tài chính các DNNN. Nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ của hệ thống ngân hàng, cần bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương để tập trung đầu tư vào các dự án có hiệu quả kinh tế, xã hội, có tác động đến nhiều ngành kinh tế khác và tạo được khối lượng, mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu quan trọng. 4. Tăng nhanh đầu tư xã hội, thực hiện tốt các chính sách huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển. Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bảo đảm ngân sách chi cho đầu tư phát triển không thấp hơn 30% tổng chi ngân sách Nhà Nước. Tiếp tục quan tâm hỗ trợ đầu tư cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo. - Về chuẩn bị danh mục các công trình, dự án đầu tư mới trong kế hoạch năm 2003, các huyện, thi xã cần chủ động lập danh mục đăng ký công trình, dự án đầu tư (tập trung ưu tiên cho các mục tiêu quan trọng, có vị trí tạo thúc đẩy cho sự phát triển SXKD chung trên địa bàn), thông qua tập thể UBND, báo cáo thường trực HĐND, Thường trực Huyện, Thị uỷ, để báo cáo UBND tỉnh, sở Kế hoạch - Đầu tư vào đầu tháng 8/2002. Sở Kế hoạch - Đầu tư tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh để xem
xét và cho ý kiến trở lại, (đồng ý, không đồng ý dự án nào),
căn cứ vào đó, huyện, thị xã mới chuẩn bị dự án, chính thức đề nghị tỉnh bố trí vốn đầu tư trong kế hoạch năm 2003. 5. Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến căn bản và toàn diện về phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, Khoa học, Công nghệ; Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở. Coi trọng gắn các hoạt động công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh; tăng cường công tác bảo vệ và cải thiện môi trường, đặc biệt là công tác bảo vệ rừng. 6. Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo và việc làm. Mở rộng sự tham gia đóng góp và giám sát của người dân đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt các cơ chế chính sách để xã hội hoá và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… Thực hiện tốt chính sách đối với người có công; công tác bảo vệ thiếu niên nhi đồng; các hoạt động nhân đạo, từ thiện… 7. Đẩy mạnh cải cách hành chính trên các lĩnh vực thể chế, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức về cải cách hành chính công; thực hiện tinh giảm biên chế bộ máy HCSN; đổi mới lề lối phong cách làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và chế độ trách nhiệm; nâng cao hiệu lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp, thự hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. 8. Củng cố quốc phòng, an ninh; kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội. Chủ động và kiên quyết trấn áp các loại tội phạm, đảm bảo ổn định chính trị và trật tự kỷ cương trong các hoạt động kinh tế – xã hội. Tăng cường các biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và hạn chế tai nạn giao thông. II. NHIỆM VỤ XÂY DỰNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NĂM 2003
Mục tiêu cơ bản xây dựng dự toán NSNN năm 2003: Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển SXKD của các thành phần kinh tế và nuôi dưỡng nguồn thu; chủ động tập trung các nguồn lực thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện có hiệu quả 4 chương trình kinh tế trọng điểm; đảm bảo nền kinh tế có sự tăng trưởng, phát triển ổn định, nhanh và vững chắc.