THÔNG TƯ Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại Thi hành Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 và Nghị định số 87/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ quy định việc phân cấp quản lý, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước; Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG: 1. Viện trợ không hoàn lại là một nguồn thu của ngân sách nhà nước, phải được hạch toán và quản lý theo Luật Ngân sách nhà nước. 2. Viện trợ không hoàn lại được sử dụng dưới hình thức ngân sách nhà nước cấp phát hoặc cho vay lại. 3. Mọi khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc hiện vật mà phía Việt nam được nhận và sử dụng đều phải làm thủ tục xác nhận viện trợ . Giấy xác nhận hàng, tiền viện trợ là
căn cứ để hoàn tất các thủ tục nhận hàng, nhận tiền và hạch toán vào ngân sách các cấp. 4. Bộ Tài chính thống nhất quản lý tài chính nhà nước đối với mọi nguồn viện trợ không hoàn lại, từ khâu tham gia ý kiến về mặt tài chính trong việc xác định chủ trương sử dụng viện trợ, thẩm định dự án, phân bổ nguồn vốn cho các dự án, đến nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý tài chính, thực hiện việc xác nhận viện trợ và hạch toán vào ngân sách, hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành các chế độ quản lý tài chính, quyết toán của các dự án; hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị thực hiện việc bàn giao tài sản, vật tư, tiền vốn của các dự án
sau khi kết thúc. Bộ phận tài chính, kế toán của các Bộ, ngành có trách nhiệm giúp Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý tài chính đối với toàn bộ các chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại do Bộ, ngành TW tiếp nhận và thực hiện. Sở Tài chính Vật giá các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm giúp UBND tỉnh, thành phố quản lý tài chính đối với toàn bộ các chương trình, dự án, các khoản viện trợ không hoàn lại do các đơn vị thuộc địa phương tiếp nhận và thực hiện. 5. Thủ trưởng các Bộ, ngành, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố, Chủ tịch các Hội, Đoàn thể, các tổ chức quần chúng có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra về công tác quản lý tài chính ở các đơn vị thực hiện các chương trình, dự án thuộc phạm vi quản lý của mình. 6. Chủ nhiệm các chương trình, Giám đốc các dự án, Thủ trưởng các đơn vị trực tiếp sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện đúng các mục tiêu, đối tượng và các cam kết khác đã ghi trong từng chương trình, dự án; chấp hành nghiêm chỉnh thể chế tài chính, Pháp lệnh kế toán thống kê, Điều lệ tổ chức kế toán và chế độ hạch toán kế toán, chế độ kiểm toán hiện hành của nhà nước. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ A. LẬP VÀ TỔNG HỢP DỰ TOÁN Hàng năm, căn cứ Thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính;
Căn cứ vào các văn bản cam kết hoặc thoả thuận và kế hoạch triển khai chương trình, dự án hoặc thông báo phân phối viện trợ của cơ quan chủ quản cho đơn vị;
Căn cứ vào tình hình thực hiện dự án trong năm; Các chủ dự án lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước về viện trợ không hoàn lại và vốn đối ứng (nếu có) cùng với dự toán ngân sách của đơn vị gửi cơ quan chủ quản dự án và cơ quan tài chính đồng cấp: Dự án thuộc các Bộ, ngành gửi bộ phận tài chính kế toán của Bộ, ngành . Dự án do Tỉnh, Thành phố thực hiện gửi Sở Tài chính Vật giá. Các Bộ, ngành Trung ương và các Sở Tài chính Vật giá có trách nhiệm tổng hợp dự toán thu, chi ngân sách nhà nước về viện trợ không hoàn lại và nhu cầu vốn đối ứng (nếu có) trong dự toán ngân sách hàng năm báo cáo Bộ Tài chính (Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) để tổng hợp chung trong NSNN, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt. Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước về viện trợ không hoàn lại được lập theo những nội dung quy định trong mẫu biểu đính kèm thông tư này. Riêng dự toán về vốn đối ứng (bao gồm cả các chi phí từ khâu lập dự án đến tiếp nhận, vận chuyển, lưu kho hàng hoá, thiết bị, chi phí quản lý điều hành dự án...) theo từng loại vốn (xây dựng cơ bản, hành chính sự nghiệp...) phải phù hợp với nội dung các văn bản cam kết, hiệp định hoặc thoả thuận và phù hợp với tiến độ thực hiện của từng dự án. Đối với các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thì chủ dự án phải dùng nguồn tự có hoặc đi vay để đáp ứng nhu cầu vốn đối ứng này. B. THỰC HIỆN TIẾP NHẬN VÀ QUẢN LÝ 1. Xác nhận viện trợ 1.1. Đối tượng phải làm giấy xác nhận viện trợ: Tất cả các đơn vị, chủ dự án có nhận hàng, tiền viện trợ của nước ngoài ( kể cả được sử dụng dưới hình thức ngân sách nhà nước cấp phát hay cho vay lại ). 1.2. Phạm vi các khoản viện trợ không hoàn lại phải làm xác nhận viện trợ bao gồm: Hàng hoá, thiết bị phía viện trợ chuyển giao cho các đơn vị trong nước qua con đường nhập khẩu theo các chương trình, dự án. Hàng hoá, thiết bị phía viện trợ đặt mua trong nước rồi chuyển giao cho các đơn vị theo các chương trình, dự án đã được ký kết. Hàng hoá, thiết bị có trong danh mục dự án viện trợ, được mang vào theo chuyên gia và do Bên nước ngoài trực tiếp sử dụng, nhưng được cam kết sẽ bàn giao lại cho các đơn vị sau khi kết thúc các chương trình, dự án viện trợ. Hàng viện trợ nhân đạo do đơn phương phía nước ngoài gửi cho phía trong nước. Ngoại tệ hoặc tiền Việt nam do phía viện trợ chuyển giao cho các đơn vị trong nước nhận và trực tiếp sử dụng theo các chương trình, dự án (bao gồm cả khoản tài trợ cho hoạt động mang tính chất công vụ phí của văn phòng dự án theo mức khoán đã cam kết trong văn kiện dự án); các khoản viện trợ bằng tiền được phép không theo dự án định trước. 1.3. Thời điểm và địa điểm xác nhận: Khi có thông báo nhận hàng, tiền viện trợ (đố@giao cho các đơn trong nước thì sau khi nhận được hàng), các đơn vị có trách nhiệm đến một trong các địa điểm gần nhất sau để làm thủ tục xác nhận viện trợ: Bộ Tài chính (Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) tại số 4 - Phan Huy Chú - Hà Nội. Đại diện Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế tại số 48 - Đường Pasteur - thành phố Đà Nẵng. Đại diện Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế tại số 138-Đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. 1.4. Quy định về giấy xác nhận viện trợ: Giấy xác nhận viện trợ được kê khai thành 5 bản như nhau: Đơn vị giữ 2 bản để làm thủ tục nhận hàng, tiền và làm căn cứ thực hiện việc hạch toán kế toán; Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế giữ 3 bản để lưu và chuyển cho các cơ quan quản lý liên quan. Trường hợp nhận ô tô hoặc xe máy, đơn vị phải kê khai thêm 1 bản giấy xác nhận viện trợ để làm thủ tục đăng ký lưu hành tại cơ quan giao thông công chính. Mẫu giấy xác nhận tiền, hàng viện trợ được quy định thống nhất kèm theo thông tư này. Các đơn vị có thể chụp lại mẫu này để kê khai làm thủ tục. 1.5. Các hình thức tiến hành thủ tục xác nhận viện trợ: 1.5.1. Xác nhận viện trợ trực tiếp: Là hình thức đơn vị tiếp nhận và sử dụng viện trợ phải trực tiếp đến làm thủ tục xác nhận viện trợ tại một trong các địa điểm quy định ở mục 1.2 nói trên. Hình thức này áp dụng cho các trường hợp sau: Các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành Trung ương quản lý tiếp nhận hàng hoặc tiền viện trợ. Các đơn vị trực thuộc địa phương quản lý tiếp nhận hàng viện trợ. 1.5.2. Xác nhận viện trợ gián tiếp: Là hình thức làm thủ tục xác nhận viện trợ do Sở tài chính Vật giá các tỉnh, thành phố thực hiện. Hình thức này áp dụng cho các trường hợp nhận khoản viện trợ riêng lẻ do người tài trợ đưa trực tiếp tại đơn vị trực thuộc địa phương quản lý. Cách thức tiến hành như sau: Các đơn vị khi nhận được khoản viện trợ riêng lẻ này, phải thông báo ngay bằng văn bản cho Sở Tài chính vật giá (Bộ phận theo dõi và quản lý viện trợ) về tổ chức viện trợ, tên đơn vị nhận và mục đích sử dụng cụ thể của từng khoản viện trợ để theo dõi và quản lý. Sở Tài chính Vật giá có trách nhiệm tập hợp toàn bộ hồ sơ của các khoản viện trợ riêng lẻ này, kiểm tra và xem xét tính hợp pháp của các tài liệu, lập bảng kê chi tiết theo mẫu đính kèm thông tư. Sau đó 3 tháng một lần, Sở Tài chính Vật giá (bộ phận theo dõi và quản lý viện trợ) có trách nhiệm lập chung một giấy xác nhận tiền (hoặc hàng) viện trợ kèm theo bảng kê gửi đến một trong các địa điểm xác nhận viện trợ của cơ quan quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế quy định ở trên (nơi gần nhất) để tiến hành xác nhận viện trợ cho các khoản viện trợ trên. Trên cơ sở các giấy xác nhận viện trợ đã hoàn thành thủ tục, Sở Tài chính Vật giá các tỉnh, thành phố thực hiện việc hạch toán vào ngân sách địa phương theo quy định tại thông tư này. 2. Các tài liệu cần thiết để xác nhận viện trợ: 2.1. Đối với hàng hoá viện trợ: Văn bản phê duyệt chương trình, dự án của cơ quan có thẩm quyền. Văn kiện dự án, chương trình, Hiệp định, Nghị định, hoặc các văn bản thoả thuận đã được ký kết chính thức với đối tác nước ngoài có ghi rõ danh mục, số lượng, chủng loại và giá trị hàng hoá các loại đã được phê chuẩn. Văn bản phê duyệt hợp đồng thương mại theo quy định hiện hành, kèm hoá đơn thương mại (Invoice) và giấy chứng nhận bảo hiểm (Insu rance Certìficate). Vận đơn đường biển (Bill of lading) hoặc vận đơn hàng không (Airway Bill). Bản kê chi tiết (Packing List) 2.2. Đối với tiền viện trợ: Văn bản phê duyệt chương trình, dự án của cơ quan có thẩm quyền. Văn bản dự án, chương trình, Hiệp định, Nghị định hoặc các văn bản thoả thuận đã được ký kết chính thức với phụ lục kèm theo ghi rõ: các khoản ngoại tệ hoặc tiền đồng theo mục ngân sách của chương trình, dự án. Giấy báo của ngân hàng hoặc thông báo chuyển tiền từ phía nước ngoài về số tiền được nhận, kèm bản thuyết minh kế hoạch sử dụng nguồn tiền tài trợ. 2.3. Các trường hợp cần bổ sung văn bản: Đối với các chương trình quốc gia dài hạn, phải có các văn bản được ký kết chính thức hàng năm với các quy định cụ thể về danh mục, số lượng, chủng loại hàng hoá hoặc các khoản tiền tệ như đã nêu trên. Trường hợp trong các văn kiện ký kết không kê rõ danh mục hàng hoá, đơn vị phải có bản giải trình cụ thể số lượng, hoặc trọng lượng, giá trị hàng hoá viện trợ nằm trong tổng số kinh phí của dự án và phải được xác nhận của cơ quan chủ quản. Đối với các mặt hàng thuộc diện cấm nhập khẩu phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp có sự thay đổi danh mục hoặc chủng loại hàng hoá viện trợ, thay đổi chi tiêu cho các khoản mục ngân sách của dự án, thì phải có văn bản phê duyệt lại của Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền phê duyệt. Trường hợp hàng hoá hoặc tiền viện trợ (ngoại tệ hoặc tiền đồng Việt nam) dưới dạng séc, tiền mặt do phía viện trợ đơn phương gửi cho các đơn vị trong nước, không nằm trong các dự án đã được phê duyệt, các đơn vị chỉ được tiếp nhận sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp tại Quyết định số 80/CT ngày 28/3/1991 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ). Trong trường hợp này, các tài liệu cần thiết cho việc xác nhận viện trợ bao gồm: Văn bản xác nhận hoặc đề nghị của nhà tài trợ. Văn bản cho phép tiếp nhận viện trợ của cơ quan có thẩm quyền nêu trên. Đối với hàng hoá, cần có thêm vận đơn và giấy báo nhận hàng, bản kê chi tiết (Packing List). Trường hợp một đơn vị nhận thay cho nhiều đơn vị, thì đơn vị nhận thay phải có bảng kê phân chia cụ thể cho từng đối tượng và giấy uỷ nhiệm của các đơn vị được sử dụng viện trợ. Trường hợp bên nước ngoài đặt mua hàng trong nước để giao cho đơn vị sử dụng, thì đơn vị cần có bản chính của hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán do Bộ Tài chính phát hành. Trường hợp hàng hoá, thiết bị có trong danh mục dự án viện trợ, được chuyên gia nước ngoài trực tiếp mang vào và sử dụng, nhưng sẽ được bàn giao lại cho đơn vị sau khi kết thúc các chương trình, dự án, thì đơn vị căn cứ số hàng thực nhận, có văn bản đề nghị Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế (theo các địa chỉ quy định ở trên) để làm giấy xác nhận viện trợ. Trường hợp chưa có ngay các vận đơn, hoá đơn, bảng kê để nhận hàng (văn bản đến chậm), đơn vị phải có giấy báo của sân bay hoặc đơn vị vận chuyển. Chậm nhất sau 15 ngày, kể từ ngày làm xác nhận, đơn vị phải nộp các văn bản còn thiếu như đã quy định ở trên cho Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế hoặc nơi đã cấp giấy xác nhận viện trợ. Trường hợp dự án thuộc diện cho vay lại, phải có khế ước hay hợp đồng nguyên tắc vay lại từ hệ thống Tổng cục đầu tư phát triển hay Ngân hàng thương mại được uỷ quyền. 2.4. Điều chỉnh giấy xác nhận viện trợ. Trường hợp số hàng hoá thực nhận có phát sinh chênh lệch thừa, thiếu hoặc không đúng chủng loại, không đúng giá cả đã kê khai xác nhận... đơn vị phải gửi biên bản giám định cho cơ quan đã làm giấy xác nhận viện trợ để xem xét, điều chỉnh lại giấy xác nhận trong phạm vi không quá 30 ngày kể từ ngày xác nhận lần đầu. Trường hợp nhận hàng viện trợ không có giá trị nguyên tệ để quy đổi thành tiền Việt nam, thì giá trị để xác nhận viện trợ, sẽ do Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế tạm tính trên cơ sở giá cả của các mặt hàng tương tự nhập khẩu. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy xác nhận viện trợ, đơn vị phải gửi biên bản định giá lại cho cơ quan đã xác nhận viện trợ để điều chỉnh giấy xác nhận viện trợ cho đơn vị. Hội đồng định giá do cơ quan chủ quản của đơn vị thành lập với sự tham gia của đại diện cơ quan tài chính - vật giá cùng cấp (đối với hàng viện trợ cho các đơn vị thuộc huyện, xã quản lý, do đại diện của Sở Tài chính Vật giá tỉnh, thành phố tham gia hội đồng). 3. Hạch toán vào ngân sách nhà nước. 3.1. Mọi khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hay hiện vật, sau khi hoàn thành thủ tục xác nhận viện trợ đều phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước. 3.2. Nguồn kinh phí thuộc dự án viện trợ, nhưng do Bên nước ngoài trực tiếp chi, như chi chuyên gia, chi cho đào tạo, tham quan, khảo sát, thực tập tại nước ngoài, khoản chi được thực hiện ở nước ngoài mà không có chứng từ xác định việc chi tiêu, thì không hạch toán vào ngân sách nhà nước. 3.3. Trị giá hạch toán vào ngân sách các cấp là trị giá ngoại tệ được chuyển đổi thành đồng Việt nam, tính trên số hàng, tiền đã làm thủ tục xác nhận viện trợ. Tỷ giá dùng để chuyển đổi là tỷ giá mua vào do Ngân hàng ngoại thương công bố tại thời điểm xác nhận viện trợ. Đối với hàng hoá do bên nước ngoài đặt mua ở trong nước giao cho đơn vị sử dụng, giá trị hạch toán là giá xuất hàng ghi trên hoá đơn bán hàng do Bộ Tài chính thống nhất phát hành. 3.4. Thời điểm hạch toán: Việc hạch toán vào Ngân sách nhà nước nguồn viện trợ không hoàn lại được thực hiện ngay sau khi các đơn vị hoàn thành thủ tục xác nhận viện trợ. 3.5. Các hình thức hạch toán vào ngân sách nhà nước: 3.5.1. Các dự án thuộc diện ngân sách cấp phát: 3.5.1.1. Cấp phát nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Bộ Tài chính hoặc Sở Tài chính Vật giá các tỉnh, thành phố làm thủ tục hạch toán như sau: Ghi thu NSTW (Hoặc NSĐP):
Chương 160 A (hoặc 160 B), Loại 10, Khoản 08 (hoặc 09),
Mục 073, Tiểu mục 01 (hoặc 02, 03) nguồn viện trợ dùng cho đầu tư xây dựng cơ bản .
Chương 160 A, Loại 10, Khoản 08 (hoặc 09),
Mục 073 (hoặc 074, 075, 076) và tiểu mục 01 (hoặc 02, 03) trị giá hàng, tiền viện trợ đối với đơn vị được nhận.
Mục lục NSNN. Đồng thời, sao gửi các bản Thông tri duyệt y dự toán cho Vụ Tài chính Hành chính Sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính để phối hợp quản lý.
Chương 160 B, Loại 10, Khoản 08 (hoặc 09),
Mục 073 (hoặc 074, 075, 076), Tiểu mục 01 (hoặc 02, 03) nguồn viện trợ đơn vị được nhận.
Chương 160 A, Loại 10, Khoản 08 ( Hoặc 09),
Mục 075, Tiểu mục 01 (hoặc 02, 03) nguồn viện trợ cho vay.
Chương 160 A, Loại 10, Khoản 03,
Mục 151 (hoặc 152), Tiểu mục tương ứng. Đồng thời thông báo cho Tổng cục đầu tư phát triển hoặc các Ngân hàng thương mại để thực hiện việc cho vay lại, quản lý và thu hồi tiền vốn vay nộp ngân sách.