THÔNG TƯ Hướng dẫn Nghị định số 60/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện
Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Căn cứ Nghị định số 60/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện
Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (sau đây viết tắt là Nghị định 60/2002/NĐ-CP);
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2002/NĐ-CP như sau:
Chương I
Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (do Bộ Tài chính thông báo); và các hàng hoá nhập khẩu khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
II. Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu và thời điểm xác định.
1. Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là trị giá của hàng hoá dùng để tính thuế nhập khẩu, được xác định tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên.
2. Thời điểm xác định trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu là ngày người khai hải quan đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu. Người khai hải quan tự xác định trị giá tính thuế theo mẫu quy định và nộp cho cơ quan hải quan cùng với tờ khai hàng hoá nhập khẩu.
3. Trong trường hợp cơ quan hải quan xác định trị giá tính thuế thì cơ quan hải quan phải thông báo cho người khai hải quan biết kết quả xác định trị giá tính thuế trong thời hạn làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật.
III. Các phương pháp xác định trị giá tính thuế và trình tự áp dụng.
1. Các phương pháp xác định trị giá tính thuế.
1.1. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu.
1.2. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt.
1.3. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự.
1.4. Phương pháp trị giá khấu trừ.
1.5. Phương pháp trị giá tính toán.
1.6. Phương pháp khác.
Tạm thời chưa áp dụng phương pháp trị giá khấu trừ đối với hàng hoá nhập khẩu được bán không còn nguyên trạng như khi nhập khẩu và phương pháp trị giá tính toán. Khi áp dụng, Bộ Tài chính sẽ có thông báo.
2. Trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế.
Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu được xác định bằng cách áp dụng tuần tự các phương pháp xác định trị giá tính thuế từ điểm 1.1 đến điểm 1.6 trên đây (trừ các phương pháp tạm thời chưa áp dụng) và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế.
IV. Đồng tiền và tỷ giá để xác định trị giá tính thuế.
1. Trị giá tính thuế được tính bằng đồng Việt Nam.
2. Tỷ giá dùng để xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại ngày đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu. Trong trường hợp Ngân hàng không công bố tỷ giá hoặc thông tin không đến được cửa khẩu trong ngày thì áp dụng theo tỷ giá của ngày liền kề trước đó.
V. Giải thích từ ngữ.
Các từ ngữ sử dụng trong Thông tư này được hiểu như sau:
1 . "Hợp đồng thương mại" là thoả thuận mua bán hàng hoá dưới hình thức văn bản để nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của hai bên. Các hình thức điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác được in ra giấy cũng được coi là hình thức văn bản.
2 .“Mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người bán” là những mối quan hệ sau đây:
2.1. Họ cùng là thành viên của một doanh nghiệp khác.
2.2. Họ cùng là chủ của một doanh nghiệp.
2.3. Họ là chủ và người làm thuê.
2.4. Người bán có quyền điều khiển người mua và ngược lại.
2.5. Họ đều bị một bên thứ ba điều khiển.
2.6. Họ cùng điều khiển một bên thứ ba.
Một người được coi là có quyền điều khiển hoạt động mua bán đối với người khác khi người này có thể có hành động để hạn chế hay chỉ đạo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với người kia.
2.7. Họ cùng là thành viên của một gia đình trong các mối quan hệ sau:
Vợ chồng.
Bố mẹ và các con.
Anh chị em ruột.
Ông bà và cháu, có quan hệ huyết thống với nhau.
Cô, chú, bác, cậu, dì và cháu, có quan hệ huyết thống với nhau.
Bố mẹ vợ và con rể, bố mẹ chồng và con dâu.
Anh chị em dâu, rể.
2.8. Một người thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu, kiểm soát hoặc nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của mỗi bên.
Các bên liên kết với nhau trong kinh doanh, trong đó một bên là đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền hoặc nhà chuyển nhượng độc quyền của bên kia được coi là có mối quan hệ đặc biệt nếu như mối quan hệ đó phù hợp với quy định tại điểm 2 này.
3. "Hoa hồng mua hàng" là khoản tiền mà người mua trả cho đại lý đại diện cho mình ở nước ngoài để thực hiện dịch vụ giao dịch mua hàng hoá nhập khẩu.
4. "Hoa hồng bán hàng" là khoản tiền mà người bán trả cho đại lý đại diện cho mình để thực hiện dịch vụ giao dịch bán hàng hoá xuất khẩu.
5. “Phí môi giới" là khoản tiền mà người mua hoặc người bán hoặc cả người mua và người bán phải trả cho người môi giới để đảm nhận vai trò trung gian trong giao dịch mua bán hàng hoá nhập khẩu.
6 . “Tiền bản quyền và phí giấy phép” là khoản tiền mà người mua phải trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho người giữ bản quyền hoặc người cấp phép để được sử dụng sản phẩm có đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ: tiền trả cho bằng sáng chế, bản quyền thiết kế, nhãn hiệu thương mại, quyền sử dụng nhãn hiệu, bản quyền tác giả, giấy phép sản xuất.
7. Một trị giá được coi là “xấp xỉ” với một trị giá khác nếu sự chênh lệch giữa chúng do các yếu tố khách quan sau đây tác động đến:
Bản chất của hàng hoá, tính chất của ngành sản xuất ra hàng hoá.
Ví dụ: Chiếc điện thoại di động hiệu VINA model CA được bán với giá đầu tháng là 300 USD/chiếc nhưng do có sự thay đổi về mặt công nghệ, cuối tháng cũng model đó được bán với giá là 250 USD/chiếc. Trong trường hợp này, khi so sánh, hai mức giá trên được xem là xấp xỉ nhau.
Tính thời vụ của hàng hoá.
Ví dụ: Đầu mùa 1 kg táo được bán với giá là 1 USD/kg, vào giữa vụ được bán với giá 0,8 USD/kg. Trong trường hợp này, khi so sánh, hai mức giá trên được xem là xấp xỉ nhau.
Sự khác biệt không đáng kể về mặt thương mại.
Trong khi xem xét tính xấp xỉ của hai trị giá phải đưa chúng về cùng điều kiện mua bán.
8. ”Hàng hoá nhập khẩu giống hệt” là những hàng hoá nhập khẩu giống nhau về mọi phương diện, bao gồm:
Đặc điểm vật chất như bề mặt sản phẩm, vật liệu cấu thành, phương pháp chế tạo, chức năng, mục đích sử dụng, tính chất cơ, lý, hoá…
Chất lượng sản phẩm.
Danh tiếng của nhãn hiệu sản phẩm.
Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất được uỷ quyền.
Những hàng hoá nhập khẩu về cơ bản đáp ứng các điều kiện là hàng hoá nhập khẩu giống hệt nhưng có những khác biệt không đáng kể về bề ngoài như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng mà không làm ảnh hưởng đến giá trị của hàng hoá thì vẫn được coi là hàng hoá nhập khẩu giống hệt.
Những hàng hoá nhập khẩu không được coi là giống hệt nếu như trong quá trình sản xuất ra một trong những hàng hoá đó có sử dụng các thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ triển khai, bản vẽ thiết kế, các sơ đồ, phác đồ hay các sản phẩm dịch vụ tương tự được làm ra ở Việt Nam do người mua cung cấp miễn phí cho người bán.
9. “Hàng hoá nhập khẩu tương tự” là những hàng hoá mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau, bao gồm:
Được làm từ các nguyên liệu, vật liệu tương đương, có cùng phương pháp chế tạo.
Có cùng chức năng, mục đích sử dụng.
Chất lượng sản phẩm tương đương nhau.
Có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại, tức là người mua chấp nhận thay thế hàng hoá này cho hàng hoá kia.
Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác được uỷ quyền, được nhập khẩu vào Việt Nam.
Những hàng hoá nhập khẩu không được coi là tương tự nếu như trong quá trình sản xuất ra một trong những hàng hoá đó có sử dụng các thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ triển khai, bản vẽ thiết kế, các sơ đồ, phác đồ hay các sản phẩm dịch vụ tương tự được làm ra ở Việt Nam do người mua cung cấp miễn phí cho người bán.
10. "Hàng hoá được bán ra ngay sau khi nhập khẩu" là hàng hoá được người nhập khẩu bán cho người mua lần đầu trên thị trường nội địa, kể từ khi nhập khẩu.
Ví dụ: Sau khi nhập khẩu, người nhập khẩu A bán lại hàng hoá cho các người mua lần đầu trong nước là M, N, K theo các cấp độ thương mại khác nhau, sau đó M, N, K lại tiếp tục bán lại hàng hoá cho các người mua là E, F, G. Trong trường hợp này hàng hoá của A bán cho M, N, K là hàng hoá được bán ra ngay sau khi nhập khẩu.
11. “ Đơn giá của hàng hoá được bán ra với số lượng lớn nhất sau khi nhập khẩu" là đơn giá của hàng hoá được bán ra ngay sau khi nhập khẩu với số lượng luỹ kế lớn nhất vào cùng ngày nhập khẩu của hàng hoá đang được xác định trị giá tính thuế, hoặc vào cùng ngày nhập khẩu của hàng hoá nhập khẩu giống hệt, hàng hoá nhập khẩu tương tự hoặc vào ngày sớm nhất sau ngày nhập khẩu hàng hoá nhập khẩu giống hệt, hàng hoá nhập khẩu tương tự nhưng không chậm quá 90 ngày tính từ ngày hàng hoá đó được nhập khẩu và không quá 90 ngày tính đến ngày nhập khẩu của lô hàng đang xác định trị giá tính thuế. Trong trường hợp này, ngày nhập khẩu được tính là ngày lô hàng được thông quan.
Ngày sớm nhất sau ngày nhập khẩu hàng hoá đang xác định trị giá tính thuế là ngày mà hàng hoá được bán với số lượng hàng hoá đủ để hình thành đơn giá (tối thiểu 10% lượng hàng hoá của mặt hàng đó trong lô hàng nhập khẩu).
Ví dụ: Lô hàng lựa chọn để xác định trị giá khấu trừ được nhập khẩu vào ngày 28/1/2002. Người nhập khẩu I bán hàng hoá nhập khẩu cho nhiều người mua trong nước theo các mức giá và thời điểm khác nhau như sau:
Đơn giá
Số lượng/lần bán
Số luỹ kế
Thời gian bán
750 đồng/chiếc
500 chiếc
300 chiếc
500 chiếc
1.300 chiếc
30/4/2002
760 đồng/chiếc
200 chiếc
200 chiếc
28/1/2002
770 đồng/chiếc
350 chiếc
350 chiếc
700 chiếc
28/2/2002
780 đồng/chiếc
300 chiếc
500 chiếc
800 chiếc
29/3/2002
1000 đồng/chiếc
300 chiếc
300 chiếc
600 chiếc
27/4/2002
1050 đồng/chiếc
100 chiếc
300 chiếc
400 chiếc
20/4/2002
Tổng cộng
4.000 chiếc
4.000 chiếc
Số lượng bán ra lớn nhất trong ví dụ trên là 800 chiếc, với mức giá tương ứng là 780 đồng/chiếc. Trong ví dụ trên, không thể lựa chọn số luỹ kế 1300 chiếc tương ứng với đơn giá 750 đồng/chiếc vì không đáp ứng điều kiện về mặt thời gian do thời điểm bán quá 90 ngày kể từ ngày nhập khẩu.
12. "Hàng hoá được bán phải còn nguyên trạng như khi nhập khẩu" là hàng hoá sau khi nhập khẩu không bị bất cứ một tác động nào làm thay đổi hình dạng, đặc điểm, tính chất, công dụng của hàng hoá hoặc làm tăng, giảm trị giá của hàng hoá nhập khẩu.
13. "Hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại" là những hàng hoá nằm trong cùng một nhóm hoặc một khung nhóm hàng hoá do cùng một ngành đặc thù hay một lĩnh vực sản xuất ra, bao gồm hàng hoá nhập khẩu giống hệt và hàng hoá nhập khẩu tương tự.
Ví dụ: Các sản phẩm thép xây dựng như thép trơn tròn, thép xoắn, thép hình (chữ U, I, V..) do ngành sản xuất thép sản xuất ra, là những hàng hoá cùng cùng chủng loại.
Trong phương pháp khấu trừ “hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại” là hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nước vào Việt Nam, không phân biệt xuất xứ.
Trong phương pháp tính toán “hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại” phải là những hàng hoá nhập khẩu có cùng xuất xứ với hàng hoá đang xác định trị giá tính thuế.
14. "Các thông tin có sẵn tại cơ quan hải quan" là các thông tin liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế mà cơ quan hải quan có trách nhiệm thu thập, phân tích, lưu giữ, cập nhật, và quản lý phục vụ cho việc kiểm tra xác định trị giá tính thuế, có sẵn ở đơn vị hải quan tại thời điểm xác định trị giá tính thuế, bao gồm :
Thông tin từ các tờ khai hàng hoá nhập khẩu đã được thông quan tại đơn vị hải quan làm thủ tục nhập khẩu.
Thông tin được cung cấp từ hệ thống dữ liệu giá trong ngành Hải quan.
Các thông tin cập nhật từ các nguồn do Tổng cục Hải quan quy định.
15. “ Cùng điều kiện mua bán” bao gồm cùng các điều kiện về cấp độ thương mại, số lượng, quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm.
16. "Tham vấn" là việc cơ quan hải quan và người khai hải quan trao đổi, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế, theo yêu cầu của cơ quan hải quan.
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V