NGHỊ QUYẾT Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1991 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ
Điều 115 của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18/12/1980;
Căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đã được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 11/7/1989;
Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1990 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1991;
Sau khi nghe các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh thuyết trình và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Nhất trí thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1990 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1991, có bổ sung và sửa đổi một số điểm.
Hội đồng nhân dân tỉnh nhận thấy, trong tình hình có nhiều khó khăn gay gắt, những thành tựu đạt được chứng tỏ sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân lao động để thực hiện các Nghị quyết của HĐND tỉnh trong năm 1990.
Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh những vấn đề quan trọng dưới đây:
Về những chuyển biến tích cực
Nông nghiệp được tiếp tục đầu tư, đảm bảo được những điều kiện vật chất cần thiết để thâm canh tăng năng suất, việc áp dụng giống lúa mới đạt được những kết quả đáng kể, đời sống nhân dân tương đối ổn định, có một số gia đình mức sống tăng lên. Một số cơ sở công nghiệp quốc doanh bước đầu thích ứng với cơ chế quản lý mới, vươn lên hoạt động có hiệu quả, nộp được ngân sách. Trong xây dựng cơ bản, bước đầu khắc phục được tình trạng đầu tư dàn đều, tập trung đầu tư vào một số công trình trọng điểm, bảo đảm tiến độ thi công sớm đưa vào sử dụng các công trình đường điện Bến Tre - Mỏ Cày, An Hoá – Bình Đại, Ba Tri - Tiệm Tôm…kim ngạch xuất khẩu tăng. Các hoạt động văn hoá – xã hội được duy trì và có mặt phát triển, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được đảm bảo.
Những tồn tại:
Kinh tế xã hội năm 1990 của tỉnh có phát triển nhưng nhịp độ tăng còn chậm. nhiều cơ sở quốc doanh và tập thể chưa chuyển theo kịp cơ chế quản lý mới; thêm vào đó, sự chiếm dụng vốn lẫn nhau làm cho các đơn vị này càng gặp nhiều khó khăn và có một số đơn vị đã phá sản hoặc có nguy cơ phá sản. Thu ngân sách đạt thấp, không bảo đảm bố trí các khoản chi, đồng thời có chỗ chưa hợp lý làm ảnh hưởng đến hoạt động của một số ngành, đơn vị trong tỉnh. Công tác quản lý tiền tệ, tín dụng còn nhiều khuyết điểm, gây hậu quả nghiêm trọng làm mất lòng tin nhân dân. Giá cả thị trường không ổn định, ảnh hưởng lớn đến đời sống cán bộ - công nhân viên, lực lượng vũ trang, các đối tượng hưởng chính sách và nhân dân lao động. Lĩnh vực giáo dục – y tế, văn hoá – xã hội chậm chuyển biến, cơ sở vật chất của các ngành này có một số nơi bị xuống cấp, chất lượng hoạt động còn yếu kém.
Những tồn tại nói trên bắt nguồn từ những khó khăn vốn có của nền kinh tế, nhưng trước hết là do sự chỉ đạo quản lý, điều hành chưa theo kịp yêu cầu, chưa dự kiến hết tình hình diễn biến phức tạp trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, kỷ cương, kỷ luật bị buông lơi, các biểu hiện tiêu cực chậm được khắc phục, công tác thanh tra, kiểm tra thiếu chặt chẽ, xử lý không nghiêm và không kịp thời.
Năm 1991 tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước rất phức tạp. Các ngành, các cấp cần phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính, phải tự cân đối với mức cao nhất, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành TW và sự viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế để củng cố và phát huy những kết quả đã đạt được, phấn đấu vượt qua những khó khăn, thử thách mới về kinh tế - xã hội, giữ vững sự ổn định về chính trị, phát triển kinh tế, bảo đảm các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, ổn định đời sống của nhân dân, tạo thế đi lên cho những năm tiếp theo.
Để đạt được chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm 1991 cần phấn đấu đạt được các chỉ tiêu chủ yếu sau đây (so với năm 1990):
Tổng sản phẩm xã hội tăng 5%, thu nhập quốc dân sản xuất tăng 4,7%.
Sản lượng lương thực 350.000 tấn.
Giá trị sản lượng công nghiệp – TTCN tăng 6,6%.
Kim ngạch xuất khẩu 17triệu USD.
Vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách Nhà nước 8,8 tỷ đồng.
Giảm tỷ lệ phát triển dân số 0,05%.
Để hoàn thành những chỉ tiêu chủ yếu nêu trên, Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách và biện pháp lớn dưới đây:
1. Về kinh tế:
Tập trung cho sản xuất, lương thực, thực phẩm, đồng thời củng cố và phát triển kinh tế vườn, biển, đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, giữ vững đàn heo, trên cơ sở phát triển sản xuất của hộ gia đình theo mô hình VAC tăng sản lượng hàng hoá cho xã hội. Phát triển công nghiệp chế biến hàng nông – lâm - thuỷ sản.
Tiếp tục giải quyết tốt tình hình tranh chấp đất đai theo tinh thần Nghị quyết 10, Chỉ thị 47 của Bộ Chính trị, Quyết định 13 của Hội đồng Bộ trưởng, Thông tri 45 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và theo hướng dẫn số 195 của Uỷ ban nhân dân tỉnh để người nông dân yên tâm sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật để không ngừng phát triển sản xuất. Hình thành một bộ phận chuyên trách của tỉnh làm công tác kiểm tra việc xử lý tranh chấp đất đai ở các cơ sở.
Nhanh chóng phân loại, sắp xếp lại các cơ sở kinh tế quốc doanh. Đối với các đơn vị làm ăn có hiệu quả phải bổ sung kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với các cơ sở làm ăn thua lỗ kéo dài, những cơ sở không thuộc lĩnh vực sản xuất và không thuộc các ngành trọng yếu thì có kế hoạch, biện pháp cụ thể kiên quyết xử lý bằng cách chuyển đổi sỡ hữu hoặc giải thể, không kéo dài làm phát sinh thêm hậu quả và tổn thất tài sản của Nhà nước.
Đề ra biện pháp chỉ đạo có hiệu lực giải quyết các tồn đọng trong sản xuất kinh doanh, tập trung chủ yếu vào việc thanh toán các khoản nợ, chiếm dụng vốn lẫn nhau còn dây dưa, trốn thuế, lời giả lỗ thật, buông bỏ chức năng nhiệm vụ chủ yếu, giải quyết có kết quả các khoản nợ tín dụng để chi trả kịp thời cho dân.
Tổ chức thi hành tốt Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Cty để khuyến khích nhân dân bỏ vốn đầu tư, tận dụng lao động tay nghề, khả năng kỹ thuật để phát triển sản xuất kinh doanh đúng hướng.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong các hoạt động xuất khẩu, du lịch, dịch vụ, hợp tác kinh tế. Hoạt động xuất nhập khẩu có ý nghĩa quyết định trong việc giải quyết sự mất cân đối của nền kinh tế trong tỉnh hiện nay. Sắp xếp lại hệ thống tổ chức xuất nhập khẩu.
Gắn kinh doanh thương nghiệp với sản xuất, lấy kinh doanh phục vụ tái sản xuất mở rộng. Củng cố Cty Thương nghiệp quốc doanh, đẩy mạnh bán buôn, mở rộng thị trường trong, ngoài tỉnh và bán lẻ một số mặt hàng thiết yếu để ổn định giá.
Tăng cường công tác quản lý tài chánh, tiền tệ. Tập trung chỉ đạo thu thuế, thu đúng thủ tục và kịp thời theo Luật thuế. Quản lý chặt chẽ mọi nguồn thu của ngân sách, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Bảo đảm những khoản chi cần thiết, hợp lý, đồng thời thực hiện triệt để tiết kiệm và chống lãng phí trong chi tiêu của các cấp, các ngành, các đơn vị, nhất là trong xây dựng cơ bản.
Sửa đổi, bổ sung để hoàn chỉnh các quy định về quản lý xây dựng cơ bản, thành lập Hội đồng giám định đầu tư. Ưu tiên đầu tư và hoàn thành các công trình trọng điểm như Cầu Chẹt Sậy, đường điện Mỏ Cày - Chợ Lách, công trình thuỷ lợi trong năm 1991.
2. Về văn hoá – xã hội, giáo dục, y tế và KHKT:
Sắp xếp và cải tiến công tác quản lý đối với hệ thống giáo dục, văn hoá, y tế, khoa học kỹ thuật.
Nâng cao chất lượng giáo dục hệ phổ thông và chuyên nghiệp năm học 1990-1991. Giải quyết kịp thời về lương và nghiệp vụ phí cho giáo viên. Tiếp tục thực hiện PCC1 và XMC.
Nghiên cứu xếp lại hệ thống trường trung học chuyên nghiệp, mở thêm trường dân lập; trường tư thục dạy nghề. Công tác đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế của xã hội và ngành nghề của từng địa phương. Sắp xếp lại đội ngũ giáo viên PTCS, PTTH và giáo viên chuyên nghiệp dạy có năng suất, chất lượng cao.
Có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ ngành văn hoá ở cấp huyện, thị và cơ sở. Củng cố phương tiện thông tin, truyền thanh, sân bãi thể dục thể thao; xây dựng phong trào thể dục thể thao, văn nghệ quần chúng và nếp sống mới trong các trường học.
Chủ động quản lý các loại hình nghệ thuật, điện ảnh, sách báo, âm nhạc. Ngăn chặn và đẩy lùi các loại văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ. Đẩy mạnh hoạt động hệ thống nhà văn hoá tỉnh, huyện, thị xã.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tiêm chủng mở rộng, các chương trình phòng chống bệnh xã hội, bảo hiểm y tế, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
Thực hiện tốt chính sách xã hội với các đối tượng chính sách: nghỉ hưu, gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ và quần chúng nghèo, neo đơn, bệnh tật…
3. Về tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước:
Năm 1991 kiên quyết tinh giảm biên chế các cơ quan hành chánh sự nghiệp, các đoàn thể, đồng thời vận dụng các chính sách cho phù hợp với số dôi ra, cố gắng tạo công ăn việc làm cho anh chị em. Khuyến khích anh chị em đi sản xuất vùng kinh tế mới Đồng Tháp Mười (Long An).
Tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là cán bộ cơ sở, cán bộ quản lý kinh tế, quản lý tài chánh, pháp lý và giám đốc xí nghiệp, Cty cho phù hợp với cơ chế quản lý mới.
4. Về quốc phòng – an ninh:
Phát động toàn quân, toàn dân tham gia công tác trị an, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội. Chống âm mưu đầu độc văn hoá đồi truỵ của kẻ thù, chống đa đảng, đa nguyên, phòng chống bạo loạn. Gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, bảo vệ vững chắc mục tiêu trọng yếu, đặc biệt tại địa bàn thị xã, ven biển, vùng đông dân cư chính trị xã hội phức tạp.
Lãnh đạo thực hiện công tác tuyển quân năm 1991 đạt chỉ tiêu cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm công bằng xã hội. Đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục luật pháp trong dân, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật, bảo vệ kỷ cương luật pháp XHCN, nhất là tệ tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân. Phải đẩy mạnh phong trào chống tham nhũng trong các ngành, các cấp và trong nhân dân. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp tập trung giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân đúng pháp luật.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ở mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị nhằm làm trong sạch, lành mạnh và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước.
Năm 1991 là năm mở đầu của kế hoạch 5 năm 1991 – 1995 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, đồng thời cũng là năm nền kinh tế nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng đứng trước những khó khăn phức tạp. Việc phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh năm 1991 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp và điều hành thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát chặt chẽ các cấp, các ngành trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1991 của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Đại biểu HĐND các cấp phải gương mẫu thi hành Nghị quyết của HĐND, đồng thời có nhiệm vụ động viên các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm đối với Nhà nước và thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi đồng bào, cán bộ công nhân viên và chiến sĩ trong tỉnh hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước, nhiệt tình và sáng tạo trong lao động, sản xuất, phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; triệt để tiết kiệm, kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội; ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi trong nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 1991 của tỉnh nhà.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV kỳ họp thứ 5, thông qua trong phiên họp ngày 31/01/1991./.