NGHỊ QUYẾT Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH KHÓA XVII, KỲ HỌP THỨ 6
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Qua xem xét Tờ trình số 2234/TTr-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2017 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018; Báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Tán thành đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 được nêu trong báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan tại kỳ họp. Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề sau:
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017
Thực hiện kế hoạch năm 2017 trong điều kiện tỉnh ta gặp nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả sự cố ô nhiễm môi trường biển còn tiếp tục ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh; 02 trận lũ kép năm 2016, bão số 10 năm 2017 đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản; cùng nguồn vốn đầu tư công bị cắt giảm mạnh… Nhưng với quyết tâm cao để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tích cực, chủ động lãnh đạo, tập trung chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để khắc phục khó khăn; sự vào cuộc kịp thời của các cấp, các ngành và sự nỗ lực, cố gắng của nhân dân, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp nên tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.
Tăng trưởng kinh tế vượt kế hoạch đề ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; nông nghiệp được mùa toàn diện, sản lượng lương thực đạt cao nhất từ trước đến nay; sản xuất lâm nghiệp phát triển theo hướng đẩy mạnh khai thác gỗ rừng trồng; sản lượng thủy sản khai thác tăng cao; hoạt động du lịch phục hồi và phát triển tốt, số lượt khách du lịch đến tỉnh tăng cao; giá tiêu dùng được kiểm soát tốt, thu ngân sách đạt khá; hoàn thành đền bù giai đoạn 2 thiệt hại do sự cố môi trường biển; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được chú trọng đầu tư. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có những chuyển biến tiến bộ; công tác cải cách hành chính chuyển biến tích cực. Quốc phòng - an ninh được tăng cường, giữ vững. Công tác an sinh xã hội được chú trọng, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Tuy nhiên, do những khó khăn, thách thức đã nêu, cùng với việc trong năm chưa có các dự án động lực đi vào hoạt động nên có 03/21 chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh là tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ và tỷ lệ che phủ rừng chưa đạt kế hoạch đề ra; du lịch có sự phát triển mạnh nhưng số ngày lưu trú của khách du lịch còn thấp; quy hoạch bố trí cây trồng lâu năm thiếu bền vững, tiêu thụ hàng nông sản còn khó khăn, giá cả không ổn định; văn hóa, xã hội có chuyển biến nhưng còn chậm; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; tình hình vi phạm trật tự an toàn xã hội còn xảy ra ở một số địa phương.
II.
MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2018:
Mục tiêu phát triển:
Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững. Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với hình thành và phát triển các cơ sở chế biến công nghiệp. Đẩy mạnh công tác giao đất, kết hợp giao rừng cho các tổ chức, cá nhân. Tiếp tục tăng cường công tác khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc, tái sinh rừng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu. Phấn đấu trồng mới rừng tập trung 5.000ha; chăm sóc rừng trồng 15.247ha; giao khoán bảo vệ 260.000ha, nâng độ che phủ rừng đạt 67%.
Chương trình xây dựng nông thôn mới. Không ngừng đổi mới trong công tác chỉ đạo điều hành để thực hiện
Chương trình nông thôn mới đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo tăng về số xã, đồng thời nâng cao chất lượng về tiêu chí nông thôn mới. Phấn đấu năm 2018 có thêm 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đưa số xã đạt nông thôn mới lên 61 xã, chiếm 44,8% số xã toàn tỉnh.
Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, cho vay các lĩnh vực ưu tiên.
Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Tiếp tục tập trung chỉ đạo các DNNN nghiêm túc triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu được UBND tỉnh phê duyệt.
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; tổ chức đối thoại công khai định kỳ với cộng đồng doanh nghiệp ít nhất 1 lần/quý. Chú trọng củng cố, phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình kinh tế hợp tác.
Chương trình mục tiêu y tế - dân số. Củng cố và nâng cao hiệu quả mạng lưới y tế dự phòng, đẩy mạnh các hoạt động y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch bệnh. Tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm quá tải bệnh viện. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ bác sĩ, tiếp tục sắp xếp, bố trí bổ sung bác sĩ về tuyến xã; chú trọng xây dựng trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia.
Chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Bình lần thứ VIII năm 2017 - 2018; tham gia thi đấu các giải thể thao toàn quốc và quốc tế, phấn đấu đạt từ 145 - 150 huy chương các loại.
Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 -2020, phấn đấu đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 7,2% (giảm 2,5%), hộ cận nghèo còn 7,92 - 8,42% (giảm 3 - 3,5%), tỷ lệ hộ nghèo huyện nghèo Minh Hóa còn 26,5% (giảm 7,5%) so với năm 2017. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, chế độ ưu đãi người có công, tiếp tục xử lý các trường hợp còn tồn đọng.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Đưa Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh đi vào hoạt động có hiệu quả.
Chương trình hành động 445/CTr-UBND ngày 23/3/2017 về thực hiện Kế hoạch số 28-KH/TU ngày 21/02/2017 của Tỉnh ủy về về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 3 (khóa X) về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí". Tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tham nhũng.
Chương trình, kế hoạch hành động triển khai các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh về tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN; phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của các ngành, các cấp trong năm 2018.
Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 theo đúng mục tiêu, tiến độ đề ra. Tổ chức đối thoại giữa Chính quyền và doanh nghiệp theo hướng thực chất, có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường chất lượng hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp; triển khai Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016 - 2020 đã được phê duyệt.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian, giảm chi phí, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp. Đổi mới phương thức, lề lối làm việc, tăng cường ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ nhân dân, nhất là ở cấp cơ sở; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm giải trình, xử lý nghiêm vi phạm. Tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, xác định rõ vị trí việc làm, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhân dân và các nhà đầu tư.
Điều 2
Hội đồng nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Trong quá trình chỉ đạo, điều hành nếu có vấn đề phát sinh, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh giải quyết và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất.
Điều 3
Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận theo quy định của pháp luật giám sát và động viên mọi tầng lớp Nhân dân thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Điều 4
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khóa XVII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 08 tháng 12 năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 18 tháng 12 năm 2017./.