QUYẾT ĐỊNH Ban hành quy hoạch điều chỉnh mạng lưới dạy nghề tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2020 ———————— ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
Căn cứ Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
Căn cứ Nghị Quyết số 12/2008/NQ-HĐND ngày 08 tháng 4 năm 2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, khóa VII, kỳ họp thứ 13 về Quy hoạch điều chỉnh mạng lưới dạy nghề tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2020;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 346/TTr-LĐTBXH ngày 25 tháng 4 năm 2008,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Ban hành kèm theo Quyết định này Quy hoạch điều chỉnh mạng lưới dạy nghề tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2020 (kèm theo Quy hoạch điều chỉnh).
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký, thay thế Quyết định số 230/2004/QĐ-UB ngày 25/10/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy hoạch mạng lưới dạy nghề tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2004 - 2010.
Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này.
Điều 3
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở: Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thủ trưởng các sở, ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
QUY HOẠCH
ĐIỀU CHỈNH MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 2008 - 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
( Ban hành kèm theo Quyết định số 55/2008/QĐ-UBND ngày 07 tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh )
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển nền kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, UBND tỉnh quy hoạch điều chỉnh mạng lưới dạy nghề tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2020 như sau:
PHẦN THỨ NHẤT
THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ
I. THỰC TRẠNG:
1. Mạng lưới dạy nghề (kèm theo biểu 01, 02):
Tính đến cuối năm 2007, trên địa bàn tỉnh có 176 cơ sở dạy nghề, tăng 10% so với năm 2004 (160 cơ sở). Trong đó:
Các cơ sở dạy nghề công lập: 14 cơ sở, chiếm tỷ lệ 7,96% (14/176).
Các cơ sở dạy nghề ngoài công lập: 162 cơ sở, chiếm tỷ lệ 92,04% (162/176).
Đặc điểm mạng lưới dạy nghề của tỉnh Tây Ninh phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở thị xã, thị trấn. Cơ sở dạy nghề công lập, tuy chiếm tỷ lệ 7,96% nhưng vẫn đóng vai trò chủ lực về dạy nghề chính quy của tỉnh, nhất là những nghề mà cơ sở dạy nghề ngoài công lập không có khả năng đầu tư để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Cơ sở dạy nghề ngoài công lập, với thời gian, hình thức và phương pháp dạy nghề đa dạng, phong phú, mở rộng cơ cấu ngành nghề, tạo cơ hội cho người lao động chọn ngành nghề thích hợp để tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Ngoài ra còn có hình thức truyền nghề, kèm cặp nghề tại các làng nghề; dạy nghề theo hình thức khuyến nông, khuyến công; dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, dạy nghề cho người tàn tật; dạy nghề tại các doanh nghiệp - dạy nghề gắn với việc làm, quy mô đào tạo khá lớn góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại tỉnh nhà.
2. Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Trong giai đoạn 2001 - 2007, Ngân sách Nhà nước chủ yếu tập trung đầu tư cho trường Dạy nghề tỉnh và Trung tâm Dạy nghề khu vực Nam Tây Ninh, với tổng kinh phí đầu tư 24,2 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 3,45 tỷ đồng. Trong đó:
Trường Dạy nghề tỉnh: 16,2 tỷ (6,5 tỷ đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách địa phương, 9,7 tỷ đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia nâng cao năng lực đào tạo nghề).
Trung tâm Dạy nghề khu vực Nam Tây Ninh: 08 tỷ đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị (4,6 tỷ từ nguồn vồn ngân sách địa phương, 3,4 tỷ từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia nâng cao năng lực đào tạo nghề).
Các cơ sở dạy nghề ngoài công lập (gắn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) tự đầu tư để mua sắm máy móc, trang thiết bị, tận dụng các cơ sở hiện có của gia đình để tổ chức các lớp dạy nghề theo nhu cầu của thị trường lao động.
Nhìn chung việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở dạy nghề công lập trong những năm gần đây có tập trung, tuy nhiên so với yêu cầu vẫn chưa tương xứng, nguồn vốn còn thấp; cơ sở dạy nghề ngoài công lập nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, các thiết bị phần lớn lạc hậu và chậm đổi mới.
3. Đội ngũ giáo viên dạy nghề (kèm theo biểu 03) :
Tính đến cuối năm 2007, tổng số giáo viên dạy nghề trên địa bàn tỉnh có 308 người, đạt chuẩn 130/308 - 42,21%, chưa đạt chuẩn 178/308 - 57,79%. Trong đó: khối công lập có 126/308 người - 40,91%, đạt chuẩn 108/126 - 85,71%, chưa đạt chuẩn 18/126 - 14,29%; khối ngoài công lập có 182/308 người - 59,09%, đạt chuẩn 22/182 - 12,09%, chưa đạt chuẩn 160/182 - 87,91%.
Về cơ cấu theo trình độ: Đại học 85/308 - 27,60%, cao đẳng 26/308 - 8,45%, trung cấp chuyên nghiệp 18/308 - 5,84%, nghệ nhân và thợ có tay nghề cao 179/308 - 58,11%.
Về cơ cấu theo ngành nghề: chủ yếu là ngành công nghiệp và dịch vụ.
Về số lượng: đối với khối công lập, tỷ lệ học sinh trên giáo viên quy đổi là 28 (theo quy định không được quá 25), hiện tại còn thiếu khoảng 40 giáo viên, nhất là giáo viên hướng dẫn thực hành. Đối với khối ngoài công lập, số lượng giáo viên dạy nghề đủ đáp ứng với qui mô đào tạo hiện nay.
4. Qui mô đào tạo (kèm theo biểu 04) :
Trong giai đọan 2001 - 2007, đào tạo nghề được 94.075 người, bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 13.500 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo và dạy nghề từ 15,1% (2001) lên khoảng 32% (2007) (trong đó lao động qua đào tạo nghề khoảng 26%), chia ra: hệ dài hạn 5.979/94.075 người (6,36%), bình quân mỗi năm 850 người, hệ ngắn hạn 88.096/94.075 người (93,64%), bình quân mỗi năm 12.600 người. Vì vậy, cần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề hệ dài hạn để kịp thời đáp ứng nhu cầu lao động có tay nghề cho giai đoạn 2008 - 2010.
Đối với các cơ sở dạy nghề công lập đã đào tạo được 31.697/94.075 người (33,70%), bình quân mỗi năm 4.500 người; trong đó hệ dài hạn 5.289/94.075 (5,63%), bình quân mỗi năm 750 người, hệ ngắn hạn 26.408/94.075 người (28,07%), bình quân mỗi năm 3.773 người.
Đối với các cơ sở dạy nghề ngoài công lập đã đào tạo được 62.378/94.075 người (66,30%), bình quân mỗi năm 8.911 người; trong đó hệ dài hạn 690/94.075 người (0,73%), bình quân mỗi năm 100 người, hệ ngắn hạn 61.688/94.075 (65,57%), bình quân mỗi năm 8.813 người.
5. Cơ cấu ngành nghề đào tạo:
Các ngành nghề đào tạo rất đa dạng, chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, gồm có: Cơ khí, điện - điện tử, may công nghiệp,…Trong đó, nghề may công nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn. Ngoài số lượng được đào tạo tại cơ sở dạy nghề công lập, còn một số lượng không nhỏ học nghề theo hình thức truyền nghề, kèm cặp nghề tại các làng nghề, xóm nghề; tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như: May dân dụng, uốn tóc, điện cơ, điện lạnh, tiện, hàn, sửa chữa xe gắn máy, thợ kim hoàn…; số được đào tạo tại trung tâm khuyến công, khuyến nông dưới hình thức chuyển giao công nghệ và nhân rộng nghề; cùng với số được đào tạo tại các doanh nghiệp với quy mô khá lớn theo ngành nghề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có các lớp dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, với các ngành nghề như: Trồng nấm các loại, khai thác mủ cao su, may công nghiệp, thêu ren xuất khẩu, đan lát giỏ bội, điện dân dụng,…
6.
Chương trình, giáo trình dạy nghề:
Chương trình hành động thực hiện kế hoạch 13-KH/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 53-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh - tế xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;