NGHỊ QUYẾT Về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 1999 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào
Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;
Căn cứ vào
Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ vào Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1999 được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá V thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 05/02/1999;
Sau khi xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, các báo cáo của các ngành chức năng, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những nhiệm vụ trọng tâm về kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 1999. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý và nhấn mạnh một số vấn đề sau:
I. Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 1999: Trong tình hình hết sức khó khăn về thời tiết, nước mặn sớm và xâm nhập sâu trên toàn địa bàn tỉnh nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh cùng với các ngành, các cấp đã tập trung mọi nỗ lực của tỉnh và sự hỗ trợ của TW để khắc phục một phần khó khăn, giữ vững ổn định kinh tế và đời sống trong 6 tháng đầu năm. Một số chỉ tiêu đạt khá: nuôi thuỷ sản, sản lượng khai thác thuỷ sản, chỉ xơ dừa, thu ngân sách..., đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được tăng cường, các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội được thực hiện có kết quả, an ninh chính trị. an toàn xã hội tuy có những diễn biến phức tạp nhưng cơ bản được giữ vững và ổn định. Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng còn nhiều khó khăn và tồn tại cần tháo gỡ: sản lượng lúa không đạt, CN-TTCN phát triển chậm, hàng hoá nông, thuỷ sản chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, vốn đầu tư XDCB, vốn các chương trình mục tiêu triển khai chậm. Nhiều vấn đề bức xúc trong xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tội phạm, tệ nạn xã hội, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân nhất là vấn đề đất đai…chưa được tập trung giải quyết triệt để. Do đó, tình hình nhiệm vụ 6 tháng cuối năm hết sức nặng nề đòi hỏi tất cả các ngành, các cấp tập trung mọi nỗ lực để có các giải pháp tích cực, đồng bộ tháo gỡ, phấn đấu thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh đạt kết quả cao nhất.
II. Một số bỉện pháp bổ sung để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 1999:
Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 1999, Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh trong quá trình chỉ đạo điều hành cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp để giải quyết các vấn để chủ yếu sau:
1. Về kinh tế:
Về sản xuất nông nghiệp:
Tập trung chỉ đạo chăm sóc vụ lúa hè thu đạt năng suất, sản lượng cao . Đồng thời tăng cường đầu tư cung cấp giống mới phù hợp với từng vùng, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thuỷ lợi nội đồng cho vùng lúa cao sản và vụ mùa, đông xuân để đảm bảo đạt kế hoạch sản lượng lương thực năm.
Tiếp tục tranh thủ sự hỗ trợ của TW để đầu tư các công trình thuỷ lợi các đê bao trọng điểm, phát động mạnh trong nhân dân có biện pháp thiết thực trong việc chống xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền. Điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với yếu tố tự nhiên để đạt hiệu quả ngày càng cao trên đơn vị diện tích.
Trước mắt, Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất giao cho UBND tỉnh chỉ đạo triển khai một số đề án thuỷ lợi nhằm ngăn mặn, chống lũ ở một số cồn bãi đang có yêu cầu cấp thiết theo phương thức đầu tư xây dựng trả chậm vào năm 2000-2001 .
Lập kế hoạch đẩy mạnh tiến độ đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu mía để ổn định sản xuất từ đầu năm 2000, đảm bảo nhà máy đường hoạt động hết công suất.
Củng cố hoạt động sản xuất và cung ứng giống cây trồng, vật nuôi. Chú trọng đầu tư để tăng nhanh năng lực sản xuất tôm giống tại tỉnh để chủ động cung ứng giống cho nhân dân.
Rà soát lại thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng để có giải pháp giúp các địa phương định hướng, bố trí cây trồng, ổn định sản xuất, tiếp tục vận động nhân dân kiên quyết cải tạo vườn tạp, giống tạp, khai thác triệt để đất đai hoang hoá, cồn bãi, nhất là đối với các vùng lợ và vùng mặn ven biển.
Ngành thuỷ sản, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn phải thống nhất phối hợp chặt chẽ trong việc phân định quy hoạch nông nghiệp, thuỷ sản (có liên quan đến các tuyến đê biển), đồng thời phối hợp chặt chẽ trong triển khai các dự án lúa - tôm, tôm - lúa, thuỷ lợi, giải pháp kỹ thuật đồng bộ..., triển khai nhân rộng mô hình nuôi công nghiệp một cách chặt chẽ, quản lý nuôi theo dự án, hạn chế việc phát triển nuôi tôm ở những nơi chưa đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng và tổ chức tập huấn kỹ thuật cho người nuôi tôm để tránh tổn thất cho dân.
Về lâm nghiệp: Tập trung chỉ đạo trồng, chăm sóc, bảo quản, khai thác theo quy hoạch và tính hiệu quả kinh tế rừng. Điều tra quỹ đất, định hạn điền nuôi trồng thuỷ sản, cấp giấy quyền sử dụng đất để tháo gỡ những vướng mắc về đất rừng, đất nuôi thuỷ sản. Khẩn trương triển khai dự án bảo tồn rừng ngập mặn bảo đảm tiến độ và nguồn vốn đã giao.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – XDCB:
Thực hiện việc tổ chức đánh giá trình độ công nghệ cụ thể của từng ngành (dừa, thuỷ sản...) từng xí nghiệp, xác định yêu cầu đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm trên cơ sở nghiên cứu thị trường và chỉ đạo các ngành, các xí nghiệp xây dựng các dự án đổi mới công nghệ theo thứ tự ưu tiên, thu hút đầu tư trong tỉnh trong nước, và nước ngoài, mở rộng liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế để triển khai thực hiện các dự án này. Tổ chức thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp theo Nghị định 44/CP của Chính phủ.
Khẩn trương xây dựng văn bản và công bố những chủ trương ưu đãi đấu tư cụ thể cho các nhà đầu tư trong tỉnh, trong nước và nước ngoài biết để thu hút các đối tác đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ngành điện sớm có kế hoạch quản lý bán điện thương phẩm với giá thống nhất trong toàn tỉnh.
Tổ chức xem xét cụ thể tiến độ và hiệu quả từng công trình để có kế hoạch điều chỉnh nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả của vốn đầu tư XDCB. Triển khai quy hoạch chi tiết đô thị, phát triển mạnh chợ nông thôn nhằm tiêu thụ lưu thông nông sản hàng hoá ở nông thôn.
Tăng cường kiểm tra, giám sát thi công các công trình, đảm bảo chất lượng, tiến độ và thanh quyết toán kịp thời đối với các công trình có vốn đầu tư nước ngoài (OECF, ODA, WB...) cần tích cực quan hệ để tạo điều kiện cho vốn chuyển về tỉnh kịp thời. Củng cố các Ban quản lý dự án, cân đối các nguồn lực đối ứng để triển khai nhanh, có hiệu quả, kiên quyết không để tồn đọng vốn đến cuối năm.
Giải quyết dứt điểm, có hiệu quả các nhà xưởng, kho tàng, đất đai...đang bỏ hoang, không phát huy hiệu quả.
Thương mại – dịch vụ:
Kiến nghị với TW có cơ chế khuyến khích bảo hộ hàng nông sản và đẩy mạnh đấu tranh chống nhập lậu nông sản.
Tập trung xây dựng những giải pháp đồng bộ có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ... để đầu tư có trọng điểm nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có thị trường tiêu thụ và có hiệu quả.
Về nhập khẩu: ưu tiên tập trung nhập nguyên liệu, vật tư, dây chuyền công nghệ phục vụ cho đổi mới công nghệ theo hướng tiên tiến và công nghiệp hoá để phát triển sản xuất, nâng cao chất lương sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao.
Về ngân sách:
Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với Tờ trình số 766/TT-UB ngày 17/7/1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc xin được sử dụng 5 (năm) tỷ đồng tạm mượn của ngân sách TW trong năm 1999 để hỗ trợ phương tiện chứa nước sạch cho dân nghèo. Mỗi năm tỉnh sẽ trích ngân sách 1 (một) tỷ đồng để trả lại Bộ Tài chính (bắt đầu từ năm 2000 đến năm 2004). Giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn kinh phí trên đúng mục đích, đúng đối tượng, đạt hiệu quả cao nhất và công khai cho nhân dân được biết.
Tiếp tục chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 1999 đạt theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh. Có biện pháp tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu cơ bản và ổn định cho ngân sách, cải tiến phương pháp quản lý, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để chống thất thu và đẩy mạnh tiến độ thu từ doanh nghiệp Nhà nước TW, địa phương và khu vui ngoài quốc doanh.
Song song với việc tiếp tục kiến nghị với TW giải quyết các tồn tại trong việc thực hiện thuế VAT, tỉnh xây dựng phương án giải quyết của địa phương để xin TW cho áp dụng tạm thời trong khi chờ sự hướng dẫn của cấp trên.
2. Về giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội:
Về giáo dục:
Chuẩn bị tốt nội dung và tổ chức đại hội giáo dục tỉnh Bến Tre lần thứ I.
Chuẩn bị tốt cho việc khai giảng năm học 1999-2000 ở các cấp học.
Sắp xếp tổ chức và mạng lưới trường lớp phổ thông phù hợp với đặc điểm của tỉnh và đúng với quy định của Nhà nước. Bảo quản, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
Tăng cường công tác quản lý đối với các trường cao đằng, trung học chuyên nghiệp theo quy chế của Bộ Giáo dục.
Kiên quyết phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn sử dụng ma tuý trong học sinh. Chú trọng giáo dục pháp luật, đạo đức cho học sinh, làm trong sạch môi trường giáo dục. Có biện pháp tốt ngăn chặn học sinh bỏ học.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xã hội hoá giáo dục - đào tạo Giải quyết dần tình trạng trường học tạm bợ.
Tiếp tục thực hiện tốt
Chương trình bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trong điều hành từ nay đến năm 2000 cần tập trung 2 mục tiêu: Chăm sóc về văn hoá tinh thần và bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn . Chú ý đến trẻ em ở vùng nông thôn.
Chương trình quốc gia giải quyết việc làm và thực hiện tốt
Chương trình xoá đói giảm nghèo. Mua bảo hiểm y tế cho người nghèo có mức thu nhập từ 50.000 đồng/người trở xuống và thực hiện giảm cho các đối tượng nghèo khác.