QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 08/2009/TTLT-BXD-BXD-BTC-BKHĐT-BNNPTNT-NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2009 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; Thực hiện hướng dẫn của Bộ Xây dựng tại Công văn số 2561/BXD-QLN ngày 23 tháng 12 năm 2008 về việc triển khai Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và Công văn số 340/BXD-QLN ngày 10 tháng 3 năm 2009 về việc hướng dẫn bổ sung việc xây dựng Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở để thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Xây dựng tại Tờ trình số 219/TTr-SXD ngày 22 tháng 7 năm 2009,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (có đề án chi tiết kèm theo).
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban Giảm nghèo các cấp, Trưởng phòng Dân tộc tỉnh; Giám đốc các Sở: Xây dựng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông; Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh; Kho bạc Nhà nước tỉnh; Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Trần Minh Sanh
ĐỀ ÁN
HỖ TRỢ HỘ NGHÈO VỀ NHÀ Ở
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
(Theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của
Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 47/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 7 năm 2009 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở
trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
I. MỞ ĐẦU:
1. Khái quát những đặc điểm nổi bật của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong những năm gần đây; tình hình thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, trong đó tình hình triển khai thực hiện việc hỗ trợ các hộ nghèo về nhà ở.
a) Khái quát những đặc điểm nổi bật của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong những năm gần đây:
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ, có diện tích gần 2000 km2, dân số trung bình 973.130 người, mật độ khoảng 489 người/km2. Thế mạnh kinh tế của tỉnh là dầu khí, phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch, xuất nhập khẩu, đánh bắt hải sản xa bờ…với tám đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố và bảy huyện thị. Trong 10 năm qua (1996 - 2006) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao, bình quân 15,8 % năm, thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng 26,4%. Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn phát triển với nhịp độ cao góp phần cải thiện và năng cao mức sống dân cư, nhất là các vùng nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị và nông thôn phát triển nhanh và hoàn chỉnh, tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp cũng như du khách trong và ngoài nước đến Bà Rịa – Vũng Tàu tìm cơ hội đầu tư và tham quan du lịch.
b) Tình hình thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, trong đó tình hình triển khai thực hiện việc hỗ trợ các hộ nghèo về nhà ở:
Theo số liệu điều tra thì đầu năm 2006 toàn tỉnh có 182.583 hộ dân, có 46.837 hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh chiếm tỷ lệ 25,65% so với tổng số hộ dân, trong 46.837 hộ có 18.106 hộ nghèo theo chuẩn Quốc gia chiếm tỷ lệ 9,92 % so với tổng số hộ dân.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, tổng số hộ nghèo theo chuẩn tỉnh là 11.599 hộ (số hộ nghèo khu vực nông thôn là 7.696 hộ) chiếm 5,77 % so với tổng số hộ dân, giảm so với năm 2006 là 19,9 %, trong 11.599 hộ có 4.550 hộ nghèo (số hộ nghèo khu vực nông thôn là 3.144 hộ) theo chuẩn quốc gia chiếm tỷ lệ 2,26 % so với tổng số hộ dân, giảm 7,7 % so với đầu năm 2006.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xây dựng chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 -2010 và ban hành một số chính sách về hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở. Qua gần 3 năm triển khai thực hiện đề án, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các hội đoàn thể, công tác xóa đói giảm nghèo ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn đã giảm đáng kể (từ 25,65% vào đầu năm 2006 xuống còn 5,77% vào cuối tháng 12 năm 2008).
2. Sự cần thiết phải lập đề án:
Xoá đói giảm nghèo là mục tiêu kinh tế - xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc, là nhiệm vụ chính trị và là chính sách xã hội cơ bản mang tính nhân văn sâu sắc, là chương trình, mục tiêu để thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và của Nhà nước.
Thông qua kết quả rà soát thống kê từ các địa phương cơ sở cho thấy đại bộ phận các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở sống chủ yếu bằng nghề nông hoặc đi làm thuê, công việc làm không ổn định, thu nhập thấp, không có tích luỹ. Khả năng tự cải thiện điều kiện nhà ở là rất khó, nếu không có các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng.
Trong các năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có tiến bộ và phát triển trên nhiều mặt, nhưng vẫn còn một bộ phận nhân dân và một số vùng thật sự còn nhiều khó khăn, nhất là các vấn đề về nhà ở. Tập trung hỗ trợ cho các hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo ổn định cuộc sống là nhiệm vụ quan trọng nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của nước ta, trong đó có hỗ trợ về nhà ở. Vì vậy, việc lập đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở là công việc cần thiết có tính cấp bách nhằm giúp hộ nghèo có điều kiện an cư, lạc nghiệp, tập trung cho sản xuất góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, ổn định an ninh trật tự và chính trị của địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
3. Căn cứ để lập đề án:
Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010;
Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở;
Công văn 2561/BXD-QLN ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Bộ Xây dựng về việc triển khai thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo;
Công văn số 340/BXD-QLN ngày 10 tháng 3 năm 2009 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn bổ sung việc xây dựng Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở để thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ;
Thông tư liên tịch số 08/2009/TTLT-BXD-BXD-BTC-BKHĐT-BNNPTNT-NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2009 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÀ Ở VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN HỖ TRỢ HỘ NGHÈO VỀ NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU:
1. Nhận xét, đánh giá thực trạng nhà ở của các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh:
a) Về số lượng nhà ở:
Số lượng nhà ở của hộ nghèo tại khu vực nông thôn đến cuối năm 2008 khoảng 7.696 căn.
b) Về chất lượng nhà ở:
Phần lớn các căn hộ đều làm bằng vật liệu thô sơ, vách được che chắn bằng lá, tôn, vách đất, một số được xây gạch nhưng chất lượng rất kém, nứt nẻ, không tô trát; nền đất hay nền xi măng, mái tôn, thời gian sử dụng ngắn (dưới 5 năm), thường xuyên hư hỏng, thấm dột, không đảm bảo chất lượng sử dụng, có nhiều hộ nhà ở hư hỏng nặng, phải chống đỡ sử dụng tạm thời, nhưng chưa có điều kiện để xây dựng sửa chữa lại.
Chương trình 134/TTg:
Chương trình 134/TTg: quy cách hỗ trợ không qua thầu xây dựng, Ủy ban nhân dân xã đứng ra hợp đồng với đại lý cung cấp vật liệu xây dựng để cung cấp cho hộ dân, riêng việc thuê mướn nhân công do chủ hộ thỏa thuận liên hệ.
Mục tiêu, nguyên tắc hỗ trợ:
Mục tiêu:
Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng Tám năm 1945 cải thiện nhà ở;
+ Quyết định số 78/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách thực hiện chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ;
+ Các chính sách hỗ trợ nhà ở khác áp dụng cho từng địa phương, từng đối tượng cụ thể …
b) Đối với những hộ nghèo đã được hỗ trợ xây dựng nhà ở theo quy định của các chính sách trên nhưng nhà ở đã bị sập đổ do thiên tai gây ra mà không có khả năng tự sửa chữa, xây dựng lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận thì đưa vào diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định của Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg.
c) Đối với các hộ nghèo, có khó khăn về nhà ở đã vay tiền từ Ngân hàng Chính sách Xã hội hoặc các tổ chức tín dụng khác để tự làm nhà ở trước khi Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành, đến nay vẫn chưa trả hết nợ, nếu có đơn đăng ký hỗ trợ nhà ở (theo mẫu tại phụ lục số 5 kèm theo Đề án này) có xác nhận của thôn và Ủy ban nhân dân cấp xã thì được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để trả nợ. Mức hỗ trợ tối đa 8,4 triệu đồng /hộ đối với vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn và 7,2 triệu đồng/hộ đối với các vùng khác.
d) Đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đã có trong danh sách được hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg nhưng đến thời điểm Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành vẫn chưa được hỗ trợ nhà ở thì được hưởng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo quy định của Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg. Nguồn vốn hỗ trợ cho các đối tượng này được sử dụng từ nguồn vốn để thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg.
6. Phạm vi áp dụng:
Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở chỉ áp dụng tại khu vực nông thôn (không thuộc khu vực đô thị như phường, thị trấn ở các đô thị).
7. Số lượng hộ nghèo cần hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn tỉnh
7.1. Tổng số hộ nghèo của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo chuẩn nghèo Quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2008 (theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ): 4.550 hộ.
Trong đó: số hộ nghèo tại khu vực nông thôn là 3.144 hộ.
7.2. Tổng số hộ nghèo thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở tại khu vực nông thôn (theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ) tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2008 : 1.035 hộ.
Xác định cụ thể theo từng loại sau:
Tổng số hộ thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở là đồng bào dân tộc thiểu số: 0 hộ.
Tổng số hộ thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở là người Kinh: 1.035 hộ (trong đó: Tổng số hộ thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở đang cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ là 440 hộ).
Ghi chú:
Số liệu hộ nghèo như trên (1.035 hộ) được thống kê trên cơ sở sau:
Theo số liệu của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thì tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở là 40 hộ. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh đang triển khai thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” từ năm 2006-2010 trong đó có nội dung hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chuẩn quốc gia và chuẩn của tỉnh với mức hỗ trợ năm 2008 là 25 triệu đồng/hộ xây mới và 12,5 triệu đồng/hộ sửa chữa. Như vậy đối tượng hỗ trợ của Đề án này nằm trong đối tượng của chương trình 134 (mức hỗ trợ của chương trình 134 là 25 triệu đồng/hộ, của Đề án là 6 triệu đồng/hộ).
Do vậy đề nghị không đưa 40 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở vào Đề án này. Tuy nhiên để tiện theo dõi, số liệu về 40 hộ dân tộc thiểu số vẫn được trình bày tại bảng tổng hợp hộ nghèo và bảng danh sách chi tiết hộ nghèo. Các bảng phân tích vốn hỗ trợ hàng năm, bảng tổng nguồn vốn được tính toán với số liệu 1.035 hộ dân tộc Kinh nêu trên.
8. Xếp loại và phân loại đối tượng ưu tiên
a) Xếp loại thứ tự ưu tiên hỗ trợ:
Thực hiện ưu tiên hỗ trợ trước cho các đối tượng (có đất ở) theo thứ tự sau đây:
Ưu tiên 1: hộ gia đình có công với cách mạng (hộ gia đình đang hưởng chế độ ưu đãi theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng).
Ưu tiên 2: hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số (hộ gia đình có chồng hoặc vợ là dân tộc thiểu số thì cũng được tính là hộ gia đình dân tộc thiểu số); các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở tại các huyện nghèo quy định tại Nghị quyết số 30A/2008/NQ-CP;
Ưu tiên 3: hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai (các vùng sạt lở bờ sông, ven biển, sạt lở đất; vùng dễ xảy ra lũ quét ở khu vực miền núi...) đã có đất ở hoặc được chính quyền địa phương bố trí đất ở phù hợp với quy hoạch để xây dựng nhà ở;
Ưu tiên 4: hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật);
Ưu tiên 5: hộ gia đình đang sinh sống trong vùng khó khăn thuộc 24 xã (nêu tại mục 4a phần IV);
Ưu tiên 6: các hộ gia đình còn lại.
b) Đối với các hộ gia đình có cùng mức độ ưu tiên thì việc hỗ trợ được thực hiện trước theo thứ tự sau:
b.1. Hộ gia đình chưa có nhà ở (là hộ gia đình chưa có nhà ở riêng, hiện đang phải ở cùng bố mẹ, ở nhờ nhà của người khác, thuê nhà ở - trừ trường hợp được thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước);
b.2. Hộ gia đình có đông nhân khẩu và có nhà ở hư hỏng, dột nát (làm bằng các loại vật liệu rẻ tiền, chất lượng thấp...) có nguy cơ sập đổ, không an toàn khi sử dụng;
b.3. Hộ gia đình có có nhà ở hư hỏng, dột nát (làm bằng các loại vật liệu rẻ tiền, chất lượng thấp...) có nguy cơ sập đổ, không an toàn khi sử dụng.
c) Phân loại đối tượng ưu tiên:
c.1. Phân loại đối tượng ưu tiên để thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trong phạm vi đề án (không tính các hộ gia đình dân tộc, xem tại mục 7.2 phần IV, phụ lục 1, phụ lục 8 của đề án ):
Hộ gia đình có công với cách mạng : 03 hộ.
Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số : 0 hộ.
Hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai : 0 hộ.
Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn : 676 hộ.
Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng khó khăn : 440 hộ.
Các hộ gia đình còn lại : 288 hộ.
c.2. Phân loại đối tượng ưu tiên theo số liệu chung trên địa bàn tỉnh (kể cả các hộ gia đình dân tộc, xem mục 7.2 phần IV, phụ lục 1a của đề án)
Hộ gia đình có công với cách mạng : 04 hộ.
Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số : 40 hộ.
Hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai : 0 hộ.
Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn : 683 hộ.
Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng khó khăn : 467 hộ.
Các hộ gia đình còn lại : 288 hộ.
Ghi chú:
Số hộ gia đình được phân loại theo đối tượng ưu tiên tại điểm (c.1) nêu trên được thống kê như sau: do có trường hợp một hộ đồng thời thuộc nhiều dạng ưu tiên (ví dụ một hộ vừa thuộc diện hộ có hoàn cảnh khó khăn, vừa sinh sống ở vùng khó khăn hoặc vừa là hộ dân tộc thiểu số hoặc hộ gia đình có công với cách mạng...) và do không đưa các hộ dân tộc thiểu số vào đề án (được diễn giải chi tiết tại mục 7.2 phần IV và phụ lục 8 của đề án).
9. Nguồn vốn thực hiện:
a) Ngân sách tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bố trí vốn đối ứng không dưới 20% so với số vốn ngân sách trung ương bảo đảm, đồng thời huy động thêm các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện mục tiêu, chính sách này.
b) Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo đảm kinh phí cho các hộ dân thuộc diện đối tượng vay theo mức quy định tại Đề án này.
c) Vốn huy động từ quỹ ‘‘Vì người nghèo’’ của tỉnh;
d) Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ.
10. Xác định tổng số vốn thực hiện và phân chia nguồn vốn thực hiện:
Tổng số vốn cần có để thực hiện : 25.875.000.000 đồng.
Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ : 6.650.000.000 đồng.
Vốn ngân sách địa phương đối ứng : 1.330.000.000 đồng.
Vốn vay tín dụng ưu đãi : 8.280.000.000 đồng.
Dự kiến vốn huy động tại địa phương từ Quỹ “Vì người nghèo” của tỉnh: khoảng : 9.097.500.000 đồng.
Dự kiến vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ: khoảng : 517.500.000 đồng.
11. Cách thức thực hiện:
a) Bình xét và phê duyệt danh sách hỗ trợ nhà ở
Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức công bố, công khai các tiêu chuẩn, đối tượng và chỉ đạo bình xét, lập danh sách các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở trên địa bàn theo quy trình như sau:
Thôn, làng, ấp,... (gọi chung là thôn) tổ chức bình xét danh sách các hộ gia đình nghèo đề nghị được hỗ trợ về nhà ở. Trưởng thôn tổ chức họp để thông báo chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở đến các hộ dân; bình xét danh sách các hộ gia đình nghèo đề nghị được hỗ trợ về nhà ở trên cơ sở danh sách hộ nghèo (theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2008) do Ủy ban nhân dân xã đang quản lý. Cuộc họp phải có đại diện tối thiểu của 60% số hộ gia đình trong thôn và có sự tham gia của đại diện chính quyền cấp xã, Ban giảm nghèo cấp xã, đại diện các tổ chức, đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…cấp xã và trưởng thôn (có biên bản cuộc họp). Danh sách các hộ gia đình nghèo đề nghị được hỗ trợ về nhà ở của thôn được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới; được thực hiện công khai, minh bạch tại trụ sở thôn, bản và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Các thôn hướng dẫn các hộ dân trong danh sách đã được bình xét làm đơn đăng ký hỗ trợ nhà ở (theo mẫu tại phụ lục số 5 kèm theo Đề án này).
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, tổng hợp nhu cầu của các thôn (danh sách, số lượng hộ, vốn xây dựng nhà ở) gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp và phê duyệt danh sách hộ nghèo có khó khăn về nhà ở để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ sở lập và phê duyệt đề án hỗ trợ các hộ nghèo về nhà ở của tỉnh và xây dựng dự toán kinh phí theo các nguồn vốn để thực hiện.
b) Cấp phát và thanh toán vốn hỗ trợ làm nhà ở:
Căn cứ số vốn được phân bổ từ ngân sách Trung ương, vốn ngân sách địa phương, vốn quỹ ‘‘Vì người nghèo’’ của tỉnh và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phân bổ cho cấp huyện, đồng thời gửi danh sách vay vốn cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để thực hiện cho vay. Đối với những hộ dân được hỗ trợ từ nguồn vốn quỹ ‘‘Vì người nghèo’’ của tỉnh mà mức hỗ trợ chưa đủ so với mức vay theo quy định của Quyết định này thì được vay theo số còn thiếu.
Căn cứ số vốn được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ, Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ vốn hỗ trợ cho cấp xã.
Đối với vốn vay, hộ dân trực tiếp ký khế ước vay vốn theo quy định của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
b.1) Lập dự toán và phân bổ kinh phí
Căn cứ Quyết định phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan có liên quan xây dựng dự toán ngân sách thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ở địa phương; trong đó, xác định rõ nguồn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, nguồn vốn đối ứng của địa phương (gồm phần ngân sách địa phương bảo đảm, phần ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung phần vốn đối ứng đối với những địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương) và các nguồn vốn huy động khác. Dự toán kinh phí được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch thực hiện của địa phương, đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tế, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt kế hoạch vốn và nguồn vốn thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của địa phương và gửi kế hoạch vốn, dự toán kinh phí thực hiện về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Chính sách Xã hội.
Trên cơ sở dự toán bổ sung có mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao, nguồn ngân sách địa phương và nguồn huy động khác để thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở của địa phương, Ban Chỉ đạo hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở của tỉnh phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan lập phương án phân bổ dự toán ngân sách, chi tiết theo từng huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là huyện) báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm. (Riêng năm 2009, căn cứ đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được phê duyệt, ngân sách trung ương sẽ ứng vốn để các địa phương thực hiện).
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao dự toán cho các huyện. Căn cứ mức kinh phí được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định phân bổ nguồn vốn hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và thông báo cho từng xã (chi tiết theo từng hộ).
Căn cứ quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo công khai mức hỗ trợ đến từng thôn và từng hộ dân.
b.2) Quản lý vốn
Việc quản lý kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo quy định tại Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg cho các địa phương và cho từng hộ gia đình phải chặt chẽ, đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng; Ủy ban nhân dân cấp xã phải lập danh sách cho từng hộ dân ký nhận kinh phí.
Căn cứ quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện cấp phát bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc Nhà nước cho Ủy ban nhân dân cấp xã để cấp phát cho các hộ dân. Ủy ban nhân dân cấp xã mở tài khoản tiền gửi để quản lý, thanh toán riêng khoản kinh phí này và quyết toán với ngân sách cấp huyện, không quyết toán vào ngân sách cấp xã.
b.3) Cấp phát, giải ngân
Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước thực hiện cấp phát, thanh toán và kiểm soát chi ngân sách đối với các khoản kinh phí hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo quy định.
Mức thanh toán tối đa cho các hộ dân không vượt quá mức quy định hỗ trợ của Nhà nước đối với từng hộ dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt:
+ Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 7,2 triệu đồng/hộ, gồm ngân sách trung ương hỗ trợ 6 triệu đồng/hộ, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 1,2 triệu đồng/hộ. Đối với các hộ dân thuộc đối tượng được hỗ trợ nhà ở đang cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg thì ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 8,4 triệu đồng/hộ gồm ngân sách trung ương hỗ trợ 07 triệu đồng/hộ, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 1,4 triệu đồng/hộ.
Với nguồn vốn hỗ trợ khác, trên cơ sở số kinh phí được phân bổ từ Ban điều phối chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối, phân bổ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện để giải ngân cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện giải ngân trực tiếp bằng tiền mặt cho các hộ dân:
Trường hợp hộ dân có nhu cầu tạm ứng tiền để tự mua nguyên, vật liệu làm nhà ở thì được tạm ứng lần đầu tối đa bằng 60% mức ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hộ gia đình; nếu hộ gia đình đã hoàn thành việc xây dựng phần móng và thân nhà, thì mức tạm ứng tối đa bằng 90% mức ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hộ gia đình.
Khi có biên bản xác nhận hoàn thành xây dựng nhà ở đưa vào sử dụng (theo mẫu tại phụ lục số 7 kèm theo Đề án này), Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thanh toán, quyết toán đối với các hộ dân.
b.4) Báo cáo và quyết toán
Kinh phí ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo quy định tại Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg được hạch toán, quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Hàng tháng, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo Sở Tài chính về kết quả thực hiện chương trình, tiến độ thanh toán vốn để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
c) Tổ chức xây dựng nhà ở:
Hộ gia đình trong danh sách hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở phải có đơn đăng ký hỗ trợ nhà ở (theo mẫu tại phụ lục số 5 kèm theo Đề án này), đề xuất lựa chọn mẫu nhà, phương thức xây dựng nhà ở (tự làm hay nhờ tổ chức, đoàn thể giúp xây dựng);
Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban giảm nghèo cấp xã, trưởng thôn và đại diện các tổ chức, đoàn thể như: Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã vận động cộng đồng tại địa phương cùng giúp đỡ các hộ gia đình nghèo xây dựng nhà ở; tận dụng cao nhất khả năng huy động nguồn lực từ cộng đồng và hộ gia đình về nhân công, khai thác vật liệu tại chỗ như cát, đá, sỏi, gỗ... để giảm giá thành xây dựng. Hình thành các Đội công tác hỗ trợ xây dựng nhà ở thôn (dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp xã) tổ chức xây dựng nhà ở cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật) không có khả năng tự xây dựng nhà ở;
Các hộ gia đình sau khi nhận được tạm ứng kinh phí hỗ trợ và vốn vay làm nhà ở theo quy định phải tự xây dựng hoặc phối hợp với Đội công tác hỗ trợ xây dựng nhà ở thôn xây dựng nhà ở, đảm bảo hoàn thành nhà ở chậm nhất sau thời gian 03 tháng.
Các hộ gia đình phải có biện pháp quản lý trong quá trình xây dựng nhà ở; báo cáo chính quyền địa phương khi hoàn thành các phần việc chính của quá trình xây dựng nhà ở như móng, thân, mái để tiện cho công tác giám sát, nghiệm thu, ứng vốn và thanh toán kịp thời.
Khi hoàn thành xây dựng nhà ở theo từng giai đoạn (phần móng, thân và phần mái, hoàn thiện) và hoàn thành toàn bộ phần xây dựng nhà ở phải có biên bản xác nhận xây dựng nhà ở hoàn thành theo giai đoạn và Biên bản xác nhận hoàn thành xây dựng nhà ở đưa vào sử dụng (theo mẫu tại phụ lục số 6 và phụ lục số 7 kèm theo Đề án này).
Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo, giám sát để các hộ gia đình sử dụng tiền hỗ trợ, tiền vay làm nhà ở đúng mục đích, đảm bảo các căn nhà phải được xây dựng hoàn chỉnh để đưa vào sử dụng.
d) Các hộ dân có thể sử dụng các mẫu thiết kế điển hình hoặc tham khảo các mẫu nhà ở truyền thống, thông dụng tại địa phương để lựa chọn quy mô và hình thức nhà ở phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng hộ. Tùy tình hình vốn của chính gia đình được hỗ trợ hoặc vốn huy động của dòng họ giúp đỡ mà hộ gia đình có thể làm nhà tốt hơn, nhưng phải đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về diện tích và chất lượng nhà ở.
12. Tiến độ thực hiện:
Năm 2009: hoàn thành các công tác chuẩn bị và thực hiện hỗ trợ nhà ở cho tổng số 367 hộ; bao gồm: 03 hộ gia đình có công với cách mạng (trong đó có 2 hộ sống ở vùng khó khăn), 118 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, 230 hộ gia đình vừa có hoàn cảnh khó khăn vừa sinh sống ở vùng khó khăn, 16 hộ gia đình thuộc diện đối tượng còn lại tại thành phố Vũng Tàu theo đề nghị của thành phố là được đưa ½ số hộ diện đối tượng còn lại (tổng số là 32 hộ) vào hỗ trợ trong năm 2009 do thành phố chỉ có một xã Long Sơn thuộc diện đề án và xã Long Sơn là căn cứ cách mạng đã được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ”.
Năm 2010: thực hiện hỗ trợ nhà ở cho 668 hộ; bao gồm: 188 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, 140 hộ gia đình vừa có hoàn cảnh khó khăn vừa sinh sống ở vùng khó khăn, 68 hộ thuộc diện hộ gia đình đang sinh sống trong vùng khó khăn và 272 hộ thuộc diện đối tượng còn lại.
Năm 2011: tổng kết, đánh giá thực hiện đề án.
(Xem tại điểm c.1 khoản 8 phần IV và phụ lục 1 của đề án).
13. Tiến độ huy động vốn hàng năm:
a) Năm 2009:
Tổng số vốn cần có để thực hiện : 9.175.000.000 đồng.
Vốn ngân sách trung ương : 2.434.000.000 đồng.
Vốn ngân sách địa phương đối ứng : 486.800.000 đồng.
Vốn vay tín dụng ưu đãi : 2.936.000.000 đồng.
Vốn huy động tại địa phương từ Quỹ “Vì người nghèo” của tỉnh : 3.134.700.000 đồng.
Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ, của chính hộ gia đình được hỗ trợ : 183.500.000 đồng.
b) Năm 2010:
Tổng số vốn cần có để thực hiện : 16.700.000.000 đồng.
Vốn ngân sách trung ương : 4.216.000.000 đồng.
Vốn ngân sách địa phương đối ứng : 843.200.000 đồng.
Vốn vay tín dụng ưu đãi : 5.344.000.000 đồng.
Vốn huy động tại địa phương từ Quỹ “Vì người nghèo” của tỉnh : 5.962.800.000 đồng.
Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ, của chính hộ gia đình được hỗ trợ : 334.000.000 đồng.
14. Tổ chức thực hiện:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để chỉ đạo tổ chức, thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
b) Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:
Kiện toàn Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh để chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án này; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, đảm bảo chính sách đến được hộ nghèo có khó khăn về nhà ở, không để xảy ra thất thoát, tiêu cực; đảm bảo hộ nghèo có nhà ở sau khi được hỗ trợ theo quy định của Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg và các văn bản có liên quan.
c) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố để công bố công khai các tiêu chuẩn, đối tượng và chỉ đạo bình xét, lập danh sách các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở trên địa bàn; phân loại ưu tiên thực hiện hỗ trợ cho các đối tượng theo quy định; chủ trì chỉ đạo việc lập và phê duyệt danh sách hộ nghèo thuộc diện được vay vốn làm nhà ở theo quy định của Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg, Công văn số 340/BXD-QLN ngày 10 tháng 3 năm 2009 của Bộ Xây dựng, Thông tư liên tịch số 08/2009/TTLT-BXD-BXD-BTC-BKHĐT-BNNPTNT-NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2009 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở gửi về Ủy ban nhân dân tỉnh, phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện đề án.
d) Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính có trách nhiệm tiếp nhận nguồn kinh phí hỗ trợ từ Trung ương, cân đối vốn, bố trí vốn từ ngân sách địa phương cho chương trình theo kế hoạch hàng năm được ghi trong đề án; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bố trí kịp thời nguồn vốn đối ứng của ngân sách địa phương. Hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo danh sách và thứ tự ưu tiên, theo quy định Nhà nước.
e) Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Báo Bà Rịa – Vũng Tàu chịu trách nhiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách về hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo của tỉnh, thông tin thường xuyên về kết quả thực hiện chính sách.
f) Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Dân tộc tỉnh, các cơ quan, ban, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, các tổ chức chính trị - xã hội vận động Quỹ "Vì người nghèo" để bổ sung vào nguồn vốn hỗ trợ và phối hợp các ngành tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát việc hỗ trợ.
g) Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có trách nhiệm hỗ trợ cho hộ nghèo vay vốn để xây dựng nhà ở theo danh sách phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
h) Sở Xây dựng là cơ quan thường trực có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan để thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo khó khăn về nhà ở. Chỉ đạo các đơn vị chuyên môn lập thiết kế mẫu nhà phù hợp với đặc điểm của từng vùng, dân tộc và tình hình thực tế tại các địa phương để trên cơ sở đó các địa phương giới thiệu, hướng dẫn để hộ nghèo tự lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện của gia đình để xây dựng.
Theo dõi tiến độ thực hiện của đề án, báo cáo Ban chỉ đạo giảm nghèo tỉnh và cấp thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc của cấp huyện để có sự hướng dẫn, giải quyết kịp thời đảm bảo triển khai thành công đề án.
i) Phòng Dân tộc tỉnh có nhiệm vụ rà soát nắm chắc các đối tượng thuộc diện ưu tiên 2 là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để phối hợp thực hiện với các cơ quan có liên quan.
j) Ủy ban nhân dân cấp huyện:
Tổng hợp và phê duyệt danh sách hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn.
Kiện toàn Ban giảm nghèo cấp huyện để thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; chủ trì tổ chức việc công bố công khai các tiêu chuẩn, đối tượng và chỉ đạo bình xét, lập danh sách các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở trên địa bàn, phân loại ưu tiên thực hiện hỗ trợ cho các đối tượng theo quy định; tổ chức tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ do Ủy ban nhân dân tỉnh phân bổ và tiếp tục phân bổ vốn hỗ trợ lại cho cấp xã để thực hiện việc hỗ trợ đến các hộ nghèo; theo dõi và chỉ đạo sâu sát việc tổ chức thực hiện của cấp xã.
Tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện hỗ trợ hộ nghèo của các xã trên địa bàn huyện về số lượng hộ gia đình đã được hỗ trợ; số nhà ở đã được xây dựng; số tiền hỗ trợ đã cấp cho các hộ gia đình; số tiền cho vay và báo cáo những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện lên Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh vào cuối tháng 6 và cuối tháng 12 hàng năm.
k) Ủy ban nhân dân cấp xã:
Bình xét, lập danh sách các hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở theo thứ tự ưu tiên trên địa bàn; lập danh sách các hộ có nhu cầu vay vốn gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Kiện toàn Ban giảm nghèo cấp xã để thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
Tổ chức việc lập biên bản xác nhận xây dựng nhà ở hoàn thành theo giai đoạn (theo mẫu phụ lục số 6 của đề án) và biên bản xác nhận hoàn thành xây dựng nhà ở đưa vào sử dụng (theo mẫu phụ lục số 7 của đề án).
Lập hồ sơ hoàn công cho từng hộ được hỗ trợ nhà ở, bao gồm:
+ Trích danh sách có tên hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở;
+ Đơn đăng ký hỗ trợ nhà ở của hộ gia đình;
+ Biên bản xác nhận xây dựng nhà ở hoàn thành theo giai đoạn (phần móng và thân, phần mái và hoàn thiện), mỗi giai đoạn 01 bản;
+ Biên bản xác nhận hoàn thành xây dựng nhà ở đưa vào sử dụng (01 bản);
+ Các chứng từ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ;
+ Các chứng từ vay vốn để làm nhà ở.
Tổ chức tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ; xác nhận bảo lãnh cho các hộ được hỗ trợ về nhà ở mua vật liệu xây dựng tại các cửa hàng mua bán vật liệu xây dựng để tiến hành xây dựng nhà; chỉ đạo cho Ban giảm nghèo cấp xã hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, vận động các hộ dân tự xây dựng nhà ở đảm bảo diện tích tối thiểu, chất lượng nhà ở theo quy định tại đề án.
Tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện hỗ trợ hộ nghèo trên địa bàn xã về số lượng hộ gia đình đã được hỗ trợ; số nhà ở đã được xây dựng; số tiền hỗ trợ đã cấp cho các hộ gia đình; số tiền cho vay và báo cáo những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện trên địa bàn xã lên Ban giảm nghèo cấp huyện 6 tháng một lần.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành trong giai đoạn hiện nay là rất phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đã giải quyết tốt được chính sách xã hội về xóa đói giảm nghèo đối với khu vực nông thôn, góp phần ổn định chỗ ở và cuộc sống của người dân và là cơ sở để chính quyền địa phương, Ban giảm nghèo các cấp, các cơ quan đơn vị có liên quan triển khai thực hiện thống nhất trong tỉnh.
2. Kiến nghị:
Do số lượng hộ nghèo thuộc diện được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không nhiều (1.035 hộ) với tổng số vốn để thực hiện đề án là 25,875 tỷ đồng (trong đó tổng vốn do ngân sách địa phương đối ứng và vốn huy động khác là 10,945 tỷ đồng), và trên thực tế thời gian qua tỉnh đã thực hiện tương đối tốt chương trình vận động vốn xây dựng Qũy “Vì người nghèo”, nguồn vốn huy động tăng dần theo từng năm (tổng vốn huy động từ năm 2000 – 2008 để hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà đại đoàn kết là: 85,4 tỷ đồng, trong đó chỉ riêng năm 2007 là 10,9 tỷ, năm 2008 là 14,6 tỷ).
Vì vậy, để tạo điều kiện cho tỉnh thực hiện tốt đề án, phấn đấu đến cuối năm 2010 cơ bản hoàn thành chính sách hỗ trợ hộ nghèo đang khó khăn về nhà ở, kiến nghị Chính phủ và Bộ Xây dựng cho phép tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được rút ngắn thời gian thực hiện đề án trong 02 năm 2009 và 2010; theo đó, năm 2009 sẽ tiến hành hỗ trợ nhà ở cho 367 hộ gia đình và năm 2010 hỗ trợ cho 668 hộ.
Theo quy định việc xây dựng nhà ở phải trên loại đất ở nông thôn, nhưng phần lớn hộ nghèo thường thiếu đất ở, hoặc khi vận động người thân, cộng đồng hỗ trợ về đất cũng được cho tặng đất ao, đất vườn (không phải đất ở), nên theo Luật Đất đai phần diện tích đất xây dựng nhà ở phải chuyển mục đích sử dụng đất, từ đó sẽ gây khó khăn cho các hộ nghèo. Kiến nghị quy định không phải chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích xây dựng nhà ở của các hộ nghèo khó khăn về nhà ở thuộc đối tượng được hỗ trợ theo đề án nói trên./.