THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Thi hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về "Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp" (sau đây gọi là Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: I. Quy định chung 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng - Hộ gia đình, cá nhân (sau đây gọi là hộ gia đình) được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. - Hộ gia đình được các tổ chức nhà nước khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước. 2. Giải thích từ ngữ và khái niệm Các từ ngữ và khái niệm trong Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu như sau: a) Hiện trạng rừng Hiện trạng rừng là trạng thái rừng tại thời điểm hộ gia đình được giao, được thuê hoặc nhận khoán, gồm: - Rừng thứ sinh nghèo kiệt quy định tại mục a khoản 4
Điều 7; khoản 5
Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu là nhóm chưa có rừng do rừng đã bị khai thác kiệt quệ, hoặc đã khai thác từ lâu nhưng chưa được phục hồi, phần lớn chỉ có cỏ, cây bụi, hoặc cây gỗ, tre mọc rải rác với độ che phủ dưới mức 0,3 thuộc trạng thái đất trống IC quy định tại Quyết định số 682/QĐKT ngày 01 tháng 8 năm 1984 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về việc ban hành bản quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (sau đây gọi là Quyết định số 682/QĐKT).
Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác quy định tại mục a khoản 4
Điều 7; khoản 5
Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu là rừng phục hồi sau nương rẫy bởi lớp cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh đều tuổi, 1 tầng, đường kính nhỏ hoặc sau khai thác kiệt, còn sót lại một số cây gỗ nhưng phẩm chất xấu, trữ lượng không đáng kể, đường kính phổ biến không vượt quá 20cm, thuộc trạng thái rừng loại IIA, IIB, IIIA1 quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.
Rừng có trữ lượng ở mức trung bình hoặc giàu quy định tại mục a khoản 4
Điều 7; khoản 5
Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu như sau:
Rừng có trữ lượng ở mức trung bình là rừng thứ sinh đã bị chặt chọn nhưng chưa làm thay đổi đáng kể cấu trúc của rừng hoặc phát triển từ rừng phục hồi sau khai thác, sau nương rẫy đã có một số cây có đường kính lớn (trên 35cm) có thể khai thác sử dụng. Trữ lượng trung bình trên 100m 3 /ha, thuộc trạng thái rừng loại IIIA2 và IIIA3 quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.
Rừng có trữ lượng ở mức giàu là rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh thành thục cho đến nay chưa được khai thác sử dụng, có cấu trúc ổn định, nhiều tầng, hoặc rừng đã bị chặt chọn lấy ra một ít gỗ quý, gỗ tốt nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về cấu trúc của rừng, khả năng cung cấp của rừng còn nhiều, trữ lượng bình quân trên 150m 3 /ha, thuộc trạng thái rừng loại IVA, IVB và IIIB quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.
Các trạng thái rừng được nêu tại điểm a khoản 2
Mục I Thông tư liên tịch này áp dụng cho loại rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá.
Điều 4, 5, 7 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg là giao rừng cho hộ gia đình để quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng theo quy chế quản lý của từng loại rừng. Rừng tự nhiên được giao là tài nguyên quốc gia, không phải là tài sản của hộ gia đình; hộ gia đình chỉ được hưởng lợi ích từ rừng tùy theo hiện trạng rừng khi giao, thời gian, tiền của và công sức mà hộ gia đình đã đầu tư vào rừng.
6. Quyền hưởng lợi của hộ gia đình được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp là những lợi ích từ rừng mà người được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng, gồm:
a) Gỗ: Bao gồm gỗ được phép khai thác để làm nhà mới hoặc thay thế nhà cũ, sửa chữa lớn nhà ở cho mình tại xã nơi có rừng theo quy định tại khoản 3
Điều 7, khoản 2
Điều 8; gỗ thu được khi thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh; gỗ được phân chia khi thực hiện khai thác chính theo quy định tại các
Điều 5, 6, 7, 8, 9, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.
b) Củi: Bao gồm những cây gỗ chết khô, cây đổ gãy, cây sâu bệnh, cành, ngọn không thể tận dụng làm gỗ mà hộ gia đình được thu hái làm củi đun theo quy định tại các
Điều 5, 6, 7, 8, 9, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.
c) Lâm sản ngoài gỗ, như: tre, nứa, vầu, lồ ô, giang, dùng, măng các loại, mây, hèo, quả, các loại lá, vỏ cây, nhựa, hạt, cây thuốc v.v... (trừ những động vật, thực vật nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm theo quy định của Chính phủ và Danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục Công ước quốc tế CITES).
d) Sản phẩm nông nghiệp trồng xen, nuôi trồng thủy sản, vật nuôi.
đ) Dịch vụ du lịch.
e) Chi phí công trả bằng tiền (nếu có).
h) Được sử dụng một phần diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng được giao hoặc nhận khoán để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp, nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới cây rừng, phải tuân theo quy hoạch ngành, địa phương hoặc sự hướng dẫn của Bên giao khoán; hộ nhận khoán được phép sử dụng không quá 200m 2 làm lán trại tạm để trông nom khu rừng trong thời gian nhận khoán, nhưng phải được Bên giao khoán thỏa thuận bằng văn bản và phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân xã sở tại.
7. Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp và được quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.
II. Quy định cụ thể quyền hưởng lợi của hộ gia đình được giao, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
1. Phân chia sản phẩm khai thác chính giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp
1.1. Căn cứ phân chia sản phẩm khai thác chính hộ gia đình được hưởng.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương trong tỉnh, tình trạng rừng khi giao hoặc khoán cho hộ gia đình, quy định cụ thể mức tỷ lệ sản phẩm khai thác chính hộ gia đình được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng trong khung tỷ lệ quy định tại các
Điều 5, 6, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.
Trường hợp hộ gia đình được giao, nhận khoán trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng có nguồn thu sản phẩm hàng năm như: nhựa, quả, hạt, hoa thuộc quy hoạch rừng phòng hộ thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hưởng lợi.
Lâm sản để phân chia giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp là khối lượng lâm sản thực tế khai thác và tập trung tại bãi giao (hoặc kho) lâm sản.
Bãi giao (hoặc kho) lâm sản là địa điểm tập trung lâm sản sau khi khai thác và vận xuất, nơi các phương tiện vận chuyển có thể vào để vận chuyển lâm sản, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định địa điểm bãi giao.
1.2. Hình thức phân chia lâm sản
Phân chia lâm sản giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp được quy định trong quyết định giao hoặc hợp đồng khoán rừng và đất lâm nghiệp và áp dụng một trong 3 hình thức sau:
a) Đối với hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp (Hình thức I)
Hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp được quy định tại các khoản 5
Điều 5, khoản 5
Điều 6, khoản 4
Điều 7, khoản 2
Điều 8 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, khi phân chia sản phẩm khai thác chính, hộ gia đình được nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao và phải nộp vào ngân sách nhà nước khoản tiền tương ứng với số lâm sản được phân chia và các khoản thuế theo quy định hiện hành.
Khoản tiền phải nộp ngân sách xã khi phân chia sản phẩm: Là giá trị lâm sản phải nộp ngân sách xã, không bao gồm các khoản thuế phải nộp theo quy định hiện hành như: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên...
Khối lượng lâm sản khai thác tại bãi giao: Là khối lượng lâm sản thực tế đã khai thác tại bãi giao (hoặc kho) lâm sản.
Giá cây đứng: Là giá lâm sản đến tuổi thành thục công nghệ có thể khai thác sử dụng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định ở thời điểm khai thác lâm sản.
Tỷ lệ phải nộp ngân sách xã: Là tỷ lệ phân chia phải nộp ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định trong khung tỷ lệ theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.
Ngoài khoản tiền phải nộp ngân sách xã khi phân chia sản phẩm, hộ gia đình còn phải nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
Ví dụ: Giả sử hộ gia đình được giao rừng tự nhiên là rừng sản xuất thuộc loại rừng phục hồi sau khai thác. Hộ gia đình khai thác và vận xuất gỗ ra bãi giao với khối lượng là 30m 3 /ha. Giá cây đứng (nhóm V) là 650.000 đ/m 3 . Giá gỗ tại bãi giao 1.000.000 đ/m 3 , thuế tài nguyên 15%. Hộ gia đình được hưởng 80% giá trị sản phẩm khai thác, ngân sách xã hưởng 20% giá trị sản phẩm khai thác.
Hướng dẫn cách tính như sau:
(1)- Khoản tiền phải nộp ngân sách xã.
30m 3 x 650.000 đ x 20% = 3.900.000 đ/ha
(2)- Thuế tài nguyên: 30m 3 x 1.000.000 đ x 15% = 4.500.000 đ/ha
(3)- Số tiền bán gỗ tại bãi giao: 30m 3 x 1.000.000 đ = 30.000.000 đ/ha
(4)- Khoản tiền hộ gia đình được hưởng:
30.000.000 đ - 4.500.000 đ - 3.900.000đ = 21.600.000 đ/ha
b) Đối với hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Hình thức II: Bên Giao khoán (hoặc hộ gia đình) nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao và trả cho Hộ gia đình (hoặc bên Giao khoán) bằng tiền tương ứng với số lâm sản mà Hộ gia đình (hoặc bên Giao khoán) được hưởng. Bên nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao phải chịu trách nhiệm nộp thuế theo quy định hiện hành.
Hình thức III: Bên Giao khoán và Hộ gia đình nhận sản phẩm được phân chia tại bãi giao theo tỷ lệ quy định. Các bên chịu trách nhiệm nộp thuế theo quy định hiện hành tương ứng với phần lâm sản mà mỗi bên được hưởng.
Ví dụ: Giả sử hộ gia đình nhận khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ. Hộ gia đình khai thác và vận xuất gỗ ra bãi giao là 24m 3 /ha. Giá cây đứng (nhóm V) là 600.000đ/m 3 . Giá gỗ tại bãi giao là: 950.000đ/m 3 . Thuế tài nguyên 15%. Hộ gia đình được hưởng lợi 85% giá trị sản phẩm khai thác, bên giao khoán hưởng 15%. Hộ gia đình nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao.
Hướng dẫn cách tính như sau:
(1)- Khoản tiền phải nộp cho bên giao khoán
24m 3 x 600.000đ x 15% = 2.160.000 đ/ha
(2)- Thuế tài nguyên: 24m 3 x 950.000đ x 15% = 3.420.000 đ/ha
(3)- Số tiền bán gỗ tại bãi giao:
24m 3 x 950.000đ = 22.800.000 đ/ha
(4)- Khoản tiền hộ gia đình được hưởng:
22.800.000đ - 3.420.000đ - 2.160.000đ = 17.220.000 đ/ha
2. Quản lý chi phí khai thác lâm sản
a) Hộ gia đình được giao nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp khi được phép khai thác chính được tự tổ chức khai thác lâm sản hoặc thuê khai thác theo các quy trình, quy phạm và quy chế khai thác gỗ, lâm sản hiện hành.
b) Hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp phải chịu toàn bộ chi phí liên quan đến khai thác lâm sản, bao gồm cả chi phí khai thác liên quan đến phần lâm sản nộp ngân sách nhà nước.
c) Hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp chịu chi phí khai thác liên quan đến phần lâm sản mà hộ gia đình được hưởng.
3. Quản lý và sử dụng sản phẩm được phân chia
a) Đối với hộ gia đình: Được phép sử dụng và tiêu thụ phần sản phẩm được phân chia, bao gồm:
Phần sản phẩm được hưởng khi phân chia sản phẩm khai thác chính; phần sản phẩm của bên giao khoán mà hộ gia đình đã trả cho bên giao khoán bằng tiền tương ứng với số sản phẩm đó; phần sản phẩm thu hoạch được từ rừng: tỉa thưa, cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm nông - ngư nghiệp kết hợp.
Điều 4, 5, 6 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, được ngân sách cấp kinh phí theo Thông tư số 43/2002/TT-BTC ngày 07 tháng 5 năm 2002 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý, cấp phát vốn ngân sách cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng.
5. Quy định quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân trong một số dự án như sau:
5.1. Hộ gia đình nhận vốn hỗ trợ của chương trình PAM được hưởng lợi theo quy định tại Quyết định số 145/1998/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách quản lý và sử dụng rừng trồng được hỗ trợ từ
Chương trình lương thực thế giới (PAM).
Điều 12 và
Điều 22 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc tái tạo lại rừng của các hộ gia đình.
3. Cơ quan Địa chính chủ trì phối hợp với cơ quan Kiểm lâm và cơ quan Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng cấp chịu trách nhiệm thực hiện giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho hộ gia đình.
Đối với hộ gia đình được Nhà nước giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, ngoài việc làm thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cần bổ sung ghi rõ trạng thái rừng khi giao theo quy định tại Quyết định số 682/QĐKT để làm cơ sở phân chia hưởng lợi từ rừng.
Thông tư liên tịch này có hiệu sau 15 ngày, kể từ ngày đăng trên Công báo.
Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc cần kịp thời có văn bản báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính để xem xét giải quyết./.