THÔNG TƯ Hướng dẫn quản lý tài chính các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1996-2000
Căn cứ vào Nghị định số 87 CP ngày 19/12/1996 của Chính Phủ hướng dẫn Luật ngân sách Nhà nước và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 419/TTg ngày 21/7/1995 về Cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, số 363/TTg ngày 30/5/1996 phê duyệt Danh mục các
Chương trình khoa học công nghệ và các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm giai đoạn 5 năm 1996-2000, số 716/TTg ngày 30/9/1996 phê duyệt phương hướng nghiên cứu và danh mục các
Chương trình khoa học cấp Nhà nước về khoa học xã hội - nhân văn giai đoạn 5 năm 1996-2000. Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý tài chính các
Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 1996-2000 như sau:
Phần 1:
Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước (gọi tắt là
Chương trình) giai đoạn 1996-2000 phải thực hiện theo Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật. Nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho các
Chương trình phải được sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra sản phẩm khoa học cụ thể hướng vào việc thực hiện các mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế xã hội cũng như xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài kinh phí sự nghiệp khoa học từ ngân sách Nhà nước, các Bộ và các cơ quan khoa học công nghệ cần huy động và sử dụng các nguồn vốn khác để thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ (KHCN) được giao.
Chương trình của Bộ, Ngành nào được ghi vào dự toán kinh phí hàng năm của Bộ, Ngành đó .
Chương trình chỉ được dùng để thực hiện các nhiệm vụ của
Chương trình, các cơ quan khoa học công nghệ không sử dụng kinh phí này cho các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên theo chức năng của đơn vị.
Chương trình được thực hiện theo Thông tư số 2155/KH ngày 21/9/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường "Hướng dẫn cơ chế quản lý các
Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 5 năm 1996-2000" và công văn số 2535/QLKH ngày 06/11/1996 về "Một số quy định về cơ chế quản lý các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về khoa học xã hội-nhân văn giai đoạn 1996-2000" của Bộ Khoa - Công nghệ và Môi trường; công văn số 1862/TC-HCSN ngày 06 tháng 06 năm 1997 của Bộ Tài chính về việc cấp phát và quản lý chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 1996- 2000
Phần 2:
Chương trình để chi cho các nội dung sau:
Chương trình như: tổ chức hội thảo khoa học, lấy ý kiến tham gia của các nhà khoa học, kiểm tra đánh giá, viết và in ấn các báo cáo tổng hợp hoạt động khoa học của các
Chương trình.
Chương trình phải căn cứ vào: nội dung và khối lượng công việc cần triển khai của đề tài và Thông tư liên Bộ số 49/TC-KHCN ngày 1/7/1995 của Bộ Tài Chính và Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường "Qui định chế độ chi tiêu đối với các hoạt động nghiên cứu triển khai" và các chế độ hiện hành của Nhà nước.
Chương trình:
Chương trình lập dự toán kinh phí hoạt động chung của
Chương trình bao gồm cả kinh phí hợp tác quốc tế gửi Bộ Tài Chính và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Chương trình và toàn bộ các
Chương trình gửi Bộ Tài chính.
Chương trình, các cơ quan chủ trì, chủ nhiệm Đề tài lập dự toán chi tiết các nội dung chi của Đề tài theo mục lục ngân sách Nhà nước cho năm kế hoạch gửi Bộ chủ quản, Ban Chỉ đạo chương trình , Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường .
Chương trình gửi Bộ Tài chính để trình Chính phủ và Quốc hội.
Chương trình cho các Bộ, Ngành để trình Chính phủ phê duyệt.
Chương trình được cấp về cơ quan của Trưởng ban chỉ đạo
Chương trình theo dự toán được duyệt.
Chương trình, Đề tài hoàn thành, được đánh giá và nghiệm thu, các cơ quan chủ trì Đề tài phải tiến hành kiểm kê đánh giá tài sản đã mua sắm, xây dựng bằng kinh phí của Đề tài. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường kiểm tra xem xét và quyết định xử lý các vật tư tài sản theo chế độ hiện hành.
Chương trình và các dự án SXTTN (sử dụng từ quĩ thu hồi) từ 80 đến 100%. Mức thu hồi cụ thể cho từng loại, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường sẽ có hướng dẫn riêng.
Chương trình:
Chương trình có triển khai hoạt động và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ đã nêu trong Thông tư số 2155 /KH ngày 21/9/1996 "hướng dẫn cơ chế quản lý các
Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 5 năm 1996 -2000 " và Công văn số 2619/KCM ngày 06/11/ 1996 "Qui chế về tổ chức và phương thức hoạt động của Ban chỉ đạo
Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước giai doạn 1996-2000" của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thì được nhận khoản thù lao.
Chương trình qui định tạm thời như sau:
Chương trình tuỳ theo công việc cụ thể sẽ được thù lao theo các chế độ hiện hành.
Chương trình không quá 3% tổng kinh phí chi cho
Chương trình hàng năm (trong đó bao gồm cả thù lao cho Ban chỉ đạo
Chương trình).
Phần 3:
Chương trình, Đề tài cấp Nhà nước giai đoạn 1996-2000, các Đề tài độc lập cấp Nhà nước, các Dự án sản xuất thử nghiệm chi từ nguồn kinh phí thu hồi và thay thế Thông tư liên Bộ số 1213/KHCN-TC ngày 26/9/1992 của uỷ ban Khoa học Nhà nước - Bộ Tài chính "Hướng dẫn việc quản lý tài chính của các
Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 1991-1995" và Thông tư số 1308/TC-KHKT ngày 24/11/1990 của Liên Bộ Uỷ ban khoa học Nhà nước - Bộ Tài chính "Hướng dẫn chế độ thu hồi kinh phí đối với hoạt khoa học công nghệ".
Phần kinh phí đã thực hiện của năm 1996 cho các
Chương trình và các dự án SXTTN cho các Bộ, Ngành cũng được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị các chủ nhiệm
Chương trình, Đề tài, Dự án, các Bộ, Ngành phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp.