QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN Về việc phân công, phân cấp và quản lý điều hành Ngân sách năm 1999. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN -
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp (sủa đổi) ngày 21/6/1994;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ngân sách Nhà nước số 06/1998/QH 10 ngày 20 tháng 5 năm 1998; Nghị định 87-CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ, Nghị định số 51/1998/NĐ-CP ngày 18/ 7/1998 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 87/CP và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính; -
Căn cứ Nghị quyết ngày 19 tháng 12 năm 1998 của kỳ họp thứ 9 HĐND tỉnh khóa 13. -
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính- Vật giá. QUYẾT ĐỊNH
Chương I
Điều 1
Năm 1999 UBND tỉnh phân cấp thu ngân sách trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước ban hành ngày 20 tháng 3 năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ngân sách Nhà nước số 06/1998/QH 10 ngày 20 tháng 5 năm 1998; Nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ; Nghị định số 51/ 1998/NĐ.CP ngày 18 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 87/CP và Thông tư 103/1998/TT-BTC ngày 18 tháng 7 năm 1998 của Bộ Tài chính vào tình hình thực tế của địa phương.
Điều 2
Cơ chế phân cấp các khoản thu cho từng cấp ngân sách như sau:
1. Nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh:
a)
Phần Ngân sách tinh hưởng 100%:
Phần Ngân sách huyện hưởng 100%:
Điều 2 của Quyết định này.
3. Nguồn thu của Ngân sách xã, thị trấn gồm:
a) Các khoán thu 100%:
Thuế môn bài thu từ các hộ kinh doanh nhỏ;
Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng' góp cho Ngân sách xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
Thu từ sử dụng quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
Thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý;
Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, thị trấn;
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
Thu kết dư của Ngân sách xã, thị trấn;
Thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên;
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa Ngân sách cấp Tỉnh, Ngân sách cấp Huyện và Ngân sách xã, thị trấn được thực hiện theo quy định tại điểm c, Khoản 1,
Điều 2 Quyết định này.
c) Ngoài các khoản thu theo quy định tại điểm a, b của Khoản 3, chính quyền xã, thị trấn còn được huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tấc tự nguyện theo phương án được HĐND xã, thị trấn phê duyệt. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, dân chủ, có kiểm tra, kiểm soát và đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
4. Nguồn thu của ngân sách phường gồm:
a) Các khoản thu 100%:
Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho Ngân sách phường theo quy định của pháp luật;
Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho phường;
Viện trợ không hoàn lại các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho phường theo quy định của pháp luật;
Thu kết dư của ngân sách phường;
Thu bổ sung của Ngân sách cấp trên;
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
b) Các khoản thu theo tỷ lệ % giữa Ngân sách cấp Tỉnh, Ngân sách cấp huyện và Ngân sách phường.
Thuế giá trị gia tăng, (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước);
Thuế thu nhập doanh nghiệp (Không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập thu từ các doanh nghiệp Nhà nước);
Thuế sử dụng đất nông nghiệp (tối thiểu không thấp hơn 20%);
Thuế tài nguyên;
Lệ phí trước bạ nhà đất;
Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát xa, karaoke, kinh doanh gôn, bán thẻ hội viên, vé chơi gôn, kinh doanh casinô, trò chơi bằng máy giắc pót, kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe.
Ngoài ra một số khoản thu điều tiết luật ngân sách không quy định, nhưng để khuyến khích các phường đẩy mạnh thu ngân sách, UBND tỉnh quy định cho ngân sách phường được hưởng các khoản thu sau đây:
Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
Thuế nhà, đất;
Tiền sử dụng đất.
Điều 3
1.Để khuyến khích các huyện, thành, thị, phường, xã, thị trấn tập trung chỉ đạo thu tiền sử dụng đất trên địa bàn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, UBND Tỉnh chỉ điều tiết về Ngân sách Tỉnh 10% để chi cho công tác địa chính và quy hoạch đô thị, còn lại được phân phối như sau:
+ 30% trích để lại cho Ngân sách xã, phường, thuộc thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò;
+ 60% trích để lại cho thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò.
Đối với huyện và các xã, thị trấn trực thuộc huyện:
+ Trích 40% để lại cho xã, thị trấn.
+ Trích 50% để lại cho huyện.
2. Những lô đất tỉnh quy hoạch để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh thì điều tiết Ngân sách Tỉnh 90% (trong đó, 10% cho công tác địa chính và quy hoạch đô thị); Ngân sách xã, phường, thị trấn 10%. Riêng các khu đất dành để tạo vốn xây dựng công viên Trung tâm ở thành phố Vinh thì được phân chia: 10% Ngân sách tỉnh để chi cho công tác địa chính; 80% Ngân sách thành phố, 10% ngân sách xã, phường. Năm 1999 tạm dừng cấp đất ở mới từ quỹ đất dư thừa của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Vinh. Riêng các lô đất quy hoạch từ năm 1998 chuyển sang năm 1999 thì thực hiện việc điều tiết theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh.
Điều 4 : UBND tỉnh giao cho Sở Tài chính Vật giá tính toán cụ thể tỷ lệ điều tiết các khoản thu cho các cấp Ngân sách trên nguyên tắc giao quyền chủ động cân đối cho Ngân sách cấp dưới, khuyên khích quan tâm huy động các nguồn thu vào Ngân sách trình UBND tỉnh quyết định.
II - CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH THU NGÂN SÁCH
Điều 5 : Về giao dự toán thu:
Căn cứ vào dự toán thu Ngân sách đã được HĐND tỉnh thông qua và kế hoạch phấn đấu điều hành của UBND tỉnh, Cục Thuế chủ trì cùng Với Sở Tài chính Vật giá, Cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại Doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp Nhà nước) và ngành chủ quản phân bổ dự toán thu cho từng đơn vị và trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu Ngân sách.
Điều 6
Tất cả các loại thu, khoản thu đều phải nộp vào Ngân sách các cấp theo chế độ quy định. Riêng khoản thu học phí, viện phí các đơn vị phải tổ chức thu và nộp vào Kho bạc Nhà nước theo chế độ quy định. Nghiêm cấm mọi trường hợp tọa chi tại đơn vị. Đối với các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí phải sử dụng biên lai thu do ngành thuế quản lý. Nghiêm cấm việc ghi thu, ghi chi (trừ trường hợp thu chi bằng hiện vật và trường hợp đặc biệt phải có quyết định riêng của Chủ tịch UBND tỉnh).
Điều 7
1.Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần có kế hoạch và biện pháp phấn đấu tăng
thu ngân sách và phải thực hiện ngay từ những tháng đầu, quý đầu.
Các doanh nghiệp phải nộp ngân sách kịp thời, theo sát số phát sinh thực tế, tuyệt đối không được để tồn đọng các khoản phải nộp Ngân sách.
2. Số vượt thu do yếu tố quản lý tích cực của doanh nghiệp Nhả nước được ngân sách cấp lại một phần để bổ sung vốn lưu động hoặc đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô phát triển sản xuất. Đối với doanh nghiệp TW đóng trên địa bàn được cấp lại từ 30-50% số nộp vượt; Doanh nghiệp địa phương được cấp lại từ 60- 70% số nộp vượt. Số nộp vượt để xét trích thưởng là số nộp vượt ngân sách trong năm, được tính từ ngày 1-1 đến 31-12 của hai loại thuế: Thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Không tính số nộp cho tồn đọng năm trước chuyển sang, số nộp sau ngày 31- 12, các khoản ngân sách địa phương không được hưởng và số nộp do cơ quan thanh tra, kiểm tra phát hiện. Số nộp vượt ngân sách được bố trí cấp trong dự toán ngân sách năm sau. Sở Tài chính Vật giá phối hợp với Cục Thuế và các ngành liên quan xác định chính xác số nộp vượt của các đơn vị, tổng họp trình UBND tỉnh giải quyết. UBND tỉnh chỉ xem xét và quyết định cấp đầu tư trở lại cho các doanh nghiệp khi có tờ trình của Sở Tài chính Vật giá,
3. Thuế VAT hàng nhập khẩu tồn kho năm 1998 chuyển sang hăm 1999 yêu cầu nộp đủ vào ngân sách (Cục Thuế trực tiếp thu); nếu là DNNN được ngân sách cấp lại ngay 50%, không tính trong kế hoạch và không trừ khi quyết toán thuế vào cuối năm để bổ sung vốn lưu động (nếu thiếu), phần còn lại được bố trí đầu tư XDCB. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì được ngân sách cho vay lại 50% không thu lãi từ 3-5 năm theo dự án được duyệt.
4. Khuyến khích các huyện, thành, thị tích cực khai thác nguồn thu trên địa bàn. Toàn bộ số thu vượt dư toán giao đầu năm được để lại cho huyện, thành, thị 100% để sử dụng đầu tư cơ sở hạ tầng (riêng khoản vượt thu tiền sử dụng đất vẫn thực hiện theo quy định tại Khoản 1,
Điều 3 Quyết định này).
Điều 8
Các khoản huy động đóng góp của nhân dân:
1. Tất cả các khoản huy động, quyên góp, đóng góp chỉ được thực hiện theo quy định của Nhà nước và phải có quyết định của cấp có thẩm quyền, ngoài ra không được huy động dưới bất cứ hình thức nào. Nếu cấp nào, cơ quan, cá nhân nào quyết định và thực hiện thu không đúng thẩm quyền sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật. Mức thu phải dân chủ, bàn bạc thống nhất với dân, mọi khoản chi phí phải được công khai hóa trước dân, thực hiện tốt công tác quản lý và giám sát các nguồn thu, chi trước nhân dân.
2. Các khoản thu đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng; các khoản đóng góp xây dựng trường học, thu các loại quỹ: Công ích, An ninh - quốc phòng, Phòng chống thiên tai, Đền ơn đáp nghĩa, Bảo trợ trẻ thơ phải sử dụng biên lai thu tiền do Sở Tài chính- Vật giá phát hành theo quy định tại Quyết định 827/1998/QĐ-BTC ngày 04 tháng 7 năm 1998 của Bộ Tài chính về việc ban hành kế toán ngân sách xã.
Giao Sở Tài chính Vật giá chủ trì phối hợp với các ngành liên quan hướng dẫn sử dụng đúng chế độ Nhà nước quy định.
Điều 9
1.Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu đặc biệt là cơ quan Thuế phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước tổ chức quản lý, tập trung nguồn vào NSNN, thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu đảm bảo mọi nguồn thu ngân sách phải được tập trung đầy đủ, kịp thời vào quỹ NSNN theo đúng Thông tư số 41/1998/TT-BTC ngày 31/3/1998 của Bộ Tài chính.
2. Ngành Thuế phải cải tiến và quản lý chặt chẽ công tác hành thu, trong đó cần tập trung: Thực hiện ổn định và công khai mức khoán thuế từ 6 tháng đến 1 năm đối với các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ để họ yên tâm trong kinh doanh; mở rộng hình thức tự kê khai, tính thuế, xác định đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế. Cải tiến và đơn giản hóa các thủ tục về thu nộp, tính thuế.
3. Tổ chức giám sát hoạt động SXKD của các DNNN trên địa bàn, tăng cường kiểm tra và đôn đốc thu nộp theo sát nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kiểm tra chặt chẽ công tác kế toán, các hóa đơn bán hàng hay cung cấp lao vụ để tính đúng tính đủ thuế trị giá gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tăng thu cho ngân sách.
Tăng cường quản lý các Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, có biện pháp quản lý nghiêm đối với những đơn vị có đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kê khai nộp thuế với cơ quan thuế, kiểm tra để truy thu thuế, phạt tiền, rút giấy phép kinh doanh.
4. Tiếp tục thực hiện việc dán tem đối với các mặt hàng nhập khẩu theo quy định của Trung ương; phát huy có hiệu quả các đội chống thất thu góp phần đấu tranh chống việc trốn thuế, lậu thuế, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Điều 10
Giám đốc các Sở, Ngành, Chủ tịch UBND các Huyện, Thành phố, Thị xã, các phường, xã, thị trấn, Giám đốc các doanh nghiệp và mọi công dân phải chăm lo thu nộp các khoản thuế, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để xét thi đua khen thưởng.
Chương II
Điều 11
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh:
1. Chi thường xuyên
Các sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường, các sự nghiệp khác do cơ quan cấp Tỉnh quản lý.
Các hoạt động SNKT do các cơ quan cấp Tỉnh quản lý;
Chi quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp Tỉnh;
Hoạt động cơ quan cấp Tỉnh của ĐCSVN;
Hoạt động của cơ quan cấp Tỉnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Hội nông dân Việt Nam.
Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.
Thực hiện các chính sách xã hội do cấp tỉnh quản lý;
Các chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho cấp Tỉnh quản lý;
Trợ giá chính sách của Nhà nước phần địa phương chi;
Trả lãi tiền vay cho đầu tư theo quy định tại Khoản 3
Điều 8 Luật NSNN;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
2. Chi đầu tư phát triển:
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội do cấp Tỉnh quản lý;
Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các DNNN theo quy định của pháp luật;
3. Chi trả nợ gốc tiền vay cho đầu tư theo quy định tại Khoản 3
Điều 8 Luật NSNN;
4. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5. Chi bổ sung cho Ngân sách cấp dưới.
Điều 12 : Nhiệm vụ chi của Ngân sách cấp huyện:
1. Chi thường xuyên:
Các hoạt động sự nghiệp VHTT - TDTT - Xã hội và sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý;
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý;
Quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội;
Hoạt động của cơ quan Nhà nước cấp huyện;
Hoạt động cơ quan cấp huyện của ĐCSVN
Hoạt động cơ quan cấp huyện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam;
Tài trợ cho các tổ chức xã hội xã hội nghề nghiệp cấp Huyện theo quy định của pháp luật;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
2. Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phân cấp của Tỉnh. Đối với thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò được phân cấp chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập của các cấp học và các công trình phúc lợi công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông nội thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
3. Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
Điều 13
Nhiệm vụ chi của Ngân sách cấp xã, thị trấn:
1. Chi thường xuyên:
Công tác xã hội và hoạt động VHTT - TDTT do xã, thị trấn quản lý;
Hỗ trợ kinh phí bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý;
Hoạt động y tế xã, thị trấn (riêng lương cán bộ xã, bản do ngành y tế trả trực tiếp);
Quản lý duy tu, bảo dưỡng, các công trình kiến trúc, tài sản, các công trình phúc lợi, đường giao thông do xã quản lý;
Hoạt động của các cơ quan Nhà nước xã, thị trấn;
Hoạt động của cơ quan Đảng CSVN, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam xã, thị trấn;
Công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
2. Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phân cấp của Tỉnh;
Điều 14
Nhiệm vụ chi của Ngân sách phường:
Chi công tác xã hội và hoạt động VHTT- TDTT do phường quản lý;
Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp phường;
Hoạt động của cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sân Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam phường;
Chi về công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
II - CƠ CHẾ ĐIẾU HÀNH MỘT SỐ KHOẢN CHI CHỦ YẾU:
Điều 15
Chi xây dựng cơ bản:
1. Nguồn vốn xây dựng cơ bản:
Ngoài nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung do Nhà nước phân bổ, Tỉnh còn bố trí thêm các nguồn thu được để lại đầu tư sau đây:
90% tiền sử dụng đất và 100% cho thuê đất, kể cả tiền thuê đất của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ các công ty liên doanh của tỉnh).
100% thu về bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước được để lại đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển quỹ nhà ở.
100% thuế tài nguyên rừng và tiền bán cây đứng được để lại đầu tư, bảo vệ, trồng mới rừng và xây dựng cơ sở hạ tầng.
100% thu từ hoạt động xổ số kiến thiết được để lại đầu tư các công trình phúc lợi.
100% thu từ quảng cáo phát thanh truyền hình (cấp lại theo chế độ khi có dự án được duyệt).
Tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp Chính phủ cho để lại 100% để đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn được phân phối và sử dụng như sau:
Phân phối:
+ Đối với các xã miền núi (kể cả xã miền núi thuộc huyện đồng bằng) được để lại 100% cho ngân sách xã;
+ Đối với các xã còn lại ngân sách tỉnh hưởng 50%, ngân sách huyện và xã hưởng 50%.
Sử dụng:
+
Phần thuế sử dụng đất nông nghiệp của huyện và xã được hưởng (bao gồm 100% của các xã miền núi và 50% của các xã còn lại) được phân cấp và giao cho các huyện (thành, thị) quản lý bố trí chi cho công tác xây dựng hạ tầng cơ sở (các công trình giao thông, thủy lợi, phục vụ nông nghiệp, nông thôn...), vốn đầu tư XDCB các xã và huyện theo phân cấp quản lý của UBND tỉnh và ưu tiên để trả nợ khối lượng XDCB trong kế hoạch đã hoàn thành của huyện và xã chưa có nguồn trả nợ.
Phần 50% ngân sách tỉnh tương đương 12,9 tỷ để bố trí cho trợ giá lúa lai, ngô lai, cấp 1 hóa giống lúa, trợ giá vùng nguyên liệu mía đường Phủ Quỳ, trợ giá giống mía vụ thu cho các vùng trồng mía, xây dựng các công trình thỦy lợi khu Nam cầu Cấm, hỗ trợ giao thông nông thôn miền núi và bổ sung quỹ địa chính.
Điều 16
Chi giáo dục, y tế:
Căn cứ dự toán Ngân sách đã được HĐND tỉnh thông qua, Sở Tài chính Vật giá chủ trì phối hợp với các sở chủ quản để thống nhất về nguyên tắc, phương pháp phân bổ dự toán chi tiết cho các đơn vị thuộc ngành và các huyện theo mục lục Ngân sách Nhà nước. Sau đó, Giám đốc Sở Tài chính Vật giá và Giám đốc Sở chủ quản thông báo công khai dự toán phân bổ chi tiết đến các đơn vị thuộc ngành và các huyện.
Năm 1999 tiếp tục thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi về sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự nghiệp y tế cho ngần sách cấp tỉnh. Chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và sự nghiệp y tế ở huyện thực hiện cấp phát bằng hình thức cấp kinh phí Ủy quyền qua huyện. Chủ tịch UBND huyện là chủ tài khoản, Trưởng phòng Tài chính huyện là kế toán trưởng đối với các nguồn kinh phí được Ủy quyền.
1. Chi sự nghiệp giáo dục:
a) Đối với ngành giáo dục huyện:
Trên cơ sở dự toán tỉnh đã phân bổ, Chủ tịch UBND huyện giao cho Trưởng phòng Tài chính và Trưởng phòng Giáo dục lập dự toán chi tiết cho các cấp học (Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Phổ thông trung học, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm KT- TH- HN-DN và Phòng Giáo dục)
b) Để đảm bảo cho hoạt động chuyên môn của các cấp học, ngành học, chi thi học sinh giỏi, giáo viên giỏi, tập huấn, hội họp và các khoản chi theo chế độ khác. Sở Tài chính Vật giá thống nhất với Sở Giáo dục Đào tạo quy định mức kinh phí được để lại cho Phòng Giáo dục được chi cả nội dung và mức cụ thể.
c) Đối với các đơn vị thuộc ngành, cấp tỉnh: Căn cứ vào dự toán được phân bổ, Sở Tài chính Vật giá cấp phát trực tiếp kinh phí cho các đơn vị.
d) Việc thực hiện đối với chế độ ưu đãi giáo viên ngoài biên chế ở các trường mầm non, giáo viên công tác ở miền núi, giáo viên đi học nâng cao trình độ, giáo viên giỏi và học sinh giỏi đạt thành tích cao thực hiện theo Quyết định số 4570/QĐ-UB ngày 8/11/1997 của UBND tỉnh. Giao cho Sở Tài chính Vật giá phối hợp với Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh, Sở Giáo dục đào tạo tính toán để cân đối vào dự toán ngân sách năm 1999 và có văn bản hướng dẫn việc quản lý cấp phát khoản chi này.
Tất cả các khoản chi từ nguồn thu học phí, đơn vị phải có dự toán được cơ quan tài chinh đồng cấp phê duyệt thì Kho bạc Nhà nước mới thực hiện cấp phát.
2. Chi sự nghiệp y tế:
a) Đối với khoản chi sự nghiệp y tế cấp huyện:
Các khoản chi lương, phụ cấp, đóng góp bảo hiểm xã hội của cán bộ nhân viên tại các trung tâm y tế huyện và cán bộ y tế xã, phụ cấp y tế bản sẽ do Ngân sách tỉnh cân đối 100%. Riêng các khoản chi cho công tác chuyên môn (khám chữa bệnh) giao Sở Tài chính Vật giá phối hợp với Sở Y tế xây dựng định mức giường bệnh để đảm bảo chi cho hoạt động y tế và theo nguyên tắc sau:
Đối với 6 huyện vùng núi cao, vùng sâu ngân sách cấp đủ 100% định mức giường bệnh.
Đối với 4 huyện núi thấp: Ngân sách cấp cân đối 50% định mức giường bệnh.
Các huyện còn lại được cân đối 30% định mức giường bệnh.
Phần chênh lệch về định mức giường bệnh của các huyện núi thấp và các huyện còn lại được cân đối từ nguồn thu viện phí, bảo hiểm y tế.
Điều 17
Kinh phí đào tạo:
1. Đại học tại chức, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo khác được cân đối trong dự toán ngân sách tỉnh. Sau khi dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua. Căn cứ vào quyết định phân bổ của Chủ tịch UBND tỉnh về kinh phí đào tạo, Sở tài chính Vật giá chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo và các ngành liên quan phân bổ chi tiết cho các trường, các cơ sở đào tạo theo mục lục ngân sách. Sau đó Giám đốc Sở Tài chính Vật giá và Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo thông báo, công khai cho các trường, các cơ sở đào tạo biết. Căn cứ vào dự toán được duyệt Sở Tài chính Vật giá cấp phát trực tiếp kinh phí cho các đơn vị và thường xuyên phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo kiểm ra giám sát chặt chẽ các khoản thu chi ở các cơ sở đào tạo, thực hiện tốt công tác xét duyệt quyết toán hàng năm theo chế độ quy định.
2. Kinh phí chi thường xuyên của các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện do Ngân sách tỉnh đảm bảo và thực hiện cấp phát hàng tháng cho các huyện bằng hình thức Ủy quyền để huyện cấp phát cho các trung tâm.
3. Kinh phí đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ cán bộ, công chức vẫn tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết của chấp hành Đảng bộ tỉnh và được bố trí 6 tỷ đồng. Trong đó 3 tỷ đồng được cấp Ủy quyền cho huyện để thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ cấp huyện, xã; còn lại 3 tỷ đồng dành cho quỹ đào tạo của tỉnh. Sở Tài chính Vật giá thực hiện việc cấp phát theo quyết định của UBND tỉnh.
Điều 18
Chi sự nghiệp văn hóa thông tin- Thể dục thể thao
1. Đối với các đơn vị thuộc ngành: Sau khi có quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí Ngân sách cho các ngành liên trên, Sở Tài chính Vật giá chủ trì phối hợp với các Sở chủ quản để phân bổ chi tiết dự toán chi theo mục lục ngân sách Nhà nước cho từng đơn vị. Trên cơ sở dự toán đã phân bổ, Giám đốc Sở Tài chính thông báo công khai cho các đơn vị biết. Sở Tài chính Vật giá cấp phát trực tiếp cho các đơn vị theo dự toán được duyệt; thường xuyên phối hợp Với Sở Văn hóa thông tin, Sở Thể dục thể thao kiểm tra giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tại các đơn vị, thực hiện tốt công tác thẩm tra xét duyệt quyết toán hàng năm theo các chế độ quy định.
2. Các đơn vị trực thuộc huyện: Kinh phí hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao của cấp huyện là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được cân đối vào Ngân sách cấp huyện, do huyện điều hành trên nguyên tắc đảm bảo kinh phí cho hoạt động này ở huyện.
3. Các khoản thu về sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao, các ngành các đơn vị được đầu tư trở lại bổ sung cho các hoạt động của ngành, dự toán chi phải được cơ quan tài chính và các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Chi phải đảm bảo đúng dự toán và dự án được duyệt.
Điều 19 : Chỉ sự nghiệp kỉnh tế:
Bao gồm chi cho các sự nghiệp kinh tế: Sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp lâm nghiệp, giao thông, thủy lợi; trợ giá giống lúa lai, ngô lai, cấp 1 hóa giống lúa; hỗ trợ giá cho các đối tượng trồng mía theo quyết định của UBND tỉnh; khảo sát quy hoạch địa chính; xóa đói giảm nghèo; khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; bù lãi suất doanh nghiệp; bù lỗ doanh nghiệp công ích; chi cho sự nghiệp kiến thiết thị chính và chi hoạt động của bộ máy các đơn vị sự nghiệp kinh tế khác.
1. Đối với các khoản chi sự nghiệp kinh tế, kiến thiết thị chính thuộc cấp huyện, thành thị quản lý là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được bố trí trong dự toán Ngân sách huyện. Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm phân bổ chi tiết dự toán chi theo từng nội dung và mục lục ngân sách Nhà nước trình UBND huyện để trình HĐND huyện quyết định.
2. Cấp bù lãi suất doanh nghiệp Nhà nước:
Năm 1999 tỉnh tiếp tục thực hiện cơ chế cấp
bù chênh lệch lãi suất cho doanh nghiệp Nhà nước giữa lãi suất thương mại và lãi suất ưu đãi. Đối tượng được hưởng cấp bù chênh lệch lãi suất là các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả, có dự án đầu tư được UBND tỉnh phê duyệt để đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng để nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Giao Sở Tài chính- Vật giá chù trì phối họp với Sở Kế hoạch đầu tư căn cứ vào chỉ tiêu kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách, trình phương án cấp bù hàng năm cho từng đơn vị để UBND tỉnh ra quyết định. Căn cứ vào quyết định của UBND tỉnh, Sở Tài chính Vật giá cấp phát kinh phí cho các đơn vị được hưởng với điều kiện phải đảm bảo đầy đủ các hồ sơ thủ tục: Họp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng Thương mại; các chứng từ tính toán các khoản lãi vay; văn bản xác nhận nợ của Ngân hàng Thương mại; việc sử dụng vốn vay phải đảm bảo đúng theo dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt.
3. Chi trợ giá, trợ cước:
3.1. Trợ giá lúa lai, ngô lai:
Chi trợ giá cho những huyện thực tế có trồng lúa lai, ngô lai theo đúng chủ trương và kế hoạch của tỉnh. Giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì củng với Sở Tài chính Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban dân tộc và miền núi (đối với nguồn trợ giá từ chương trình 7464).
Tập trung trợ giá lúa lai, ngô lai từ nguồn kinh phí chương trình 7464 cho 6 huyện miền núi cao, nếu còn thì trợ giá tiếp cho các xã khu vực III thuộc huyện vùng núi thấp. Các huyện đồng bằng và huyện miền núi thấp còn lại thì sử dụng nguồn trợ giá theo chính sách địa phương được quy định tại Quyết định 3308 ngày 12/9/1996 của UBND tỉnh (trong khi chưa có sự thay đổi).
Mức trợ giá:
+ Trợ giá nguồn kinh phí 7464: được thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn liên ngành số 10 CV-LN/BCD ngày 5/5/1997 của Ban dân tộc miền núi và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
+ Mức trợ giá thuộc chính sách địa phương. Được thực hiện theo quy định tại Quyết định 3308: 80.000đ/ha lúa lai, 50.000đ/ha ngô lai.
Hình thức cấp phát và quản lý.
Trợ giá lúa lai, ngô lai từ nguồn kinh phí 7464 được cấp cho đơn vị cung ứng giống theo kế hoạch của tỉnh và lượng giống các huyện thực nhận tại đơn vị cung ứng giống; trợ giá lúa lai, ngô lai bằng nguồn ngân sách địa phương giao Sở Tài chính Vật giá cấp phát theo hình thức kinh phí Ủy quyền cho huyện theo mùa vụ và tiến độ trồng lúa lai, ngô lai. Chủ tịch UBND huyện là chủ tài khoản, trưởng phòng tài chính là kế toán trưởng của nguồn kinh phí này. UBND huyện chịu trách nhiệm xét duyệt, phân bổ và cấp phát nguồn kinh phí này đảm bảo đầy đủ, đúng mục đích; đúng đối tượng, kịp thời vụ. Đồng thời chịu trách nhiệm quyết toán nguồn kinh phí theo đúng chế độ tài chính hiện hành, tổng hợp để quyết toán với Sở Tài chính Vật giá, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban dân tộc miền núi.
3.2. Chi hỗ trợ đối tượng trồng mía:
Chi hỗ trợ các đối tượng khai hoang, phục
hóa và chuyển đổi cây trồng khác sang trồng mía, trợ giá giống mía mới trong vùng nguyên liệu tập trung được thực hiện theo Quyết định số 3464 ngày 22/9/1998 của UBND tỉnh. Căn cứ vào quyết định phân bổ kinh phí của Chủ tịch UBND tỉnh, Sở Tài chính Vật giá chuyển kinh phí cho Công ty mía đường, Công ty mía đường căn cứ vào diện tích thực tế khai hoang, phục hóa, chuyển đổi cây trồng khác sang trồng mía và diện tích trồng mía vụ thu trong vùng tập trung để thực hiện việc trợ giá giống mía mới cho các đối tượng. Cuối vụ, cuối năm thực hiện việc quyết toán với Sở Tài chính Vật giá theo đúng chế độ tài chính hiện hành.
3.3. Đối với các khoản chi trợ giá, trợ cước khác:
Liên quan đến ngành nào thì do ngành đó chủ trì (liên quan đến chính sách miền núi thì do Ban dân tộc Miền núi chủ trì, liên quan đến sản xuất nông nghiệp do Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì) phối hợp với Sở Tài chính Vật giá, Sở Kế hoạch - Đầu tư và UBND các huyện phân bổ cho các đơn vị để trình UBND tỉnh quyết định. Sở Tài chính Vật giá căn cứ vào kế hoạch trợ cước, trợ giá của UBND tỉnh và khối lượng thực hiện của các đơn vị để cấp phát và chủ trì thẩm tra quyết toán theo chế độ tài chính hiện hành.
Giám đốc các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ vận chuyển các mặt hàng chính sách miền núi phải có kế hoạch vận chuyển (các mặt hàng thuộc diện trợ cước, trợ giá cho từng huyện) và thông báo công khai để các huyện biết.
3.4. Kinh phí trợ giá cho cơ quan Đảng:
Bao gồm: Bù lỗ giá thành Báo Nghệ An, trợ giá xuất bản tờ tin nội bộ, sách chính trị và khoa học kỹ thuật, bản tin khoa học và áp dụng; kinh phí cấp Báo Nhân dân, Báo Nghệ An mỗi loại một số đến các chi bộ nông thôn thuộc các xã được công nhận là miền núi, chi bộ nông thôn vùng giáo, chi bộ nông thôn của các xã ven biển có nhiều khó khăn thực hiện theo Quyết định số 722/QĐ-TU ngày 13/ 3/1998 của Ban Thường vụ Tỉnh Ủy. Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với Ban tài chính Tỉnh Ủy căn cứ vào số lượng đối tượng được hưởng,giá thành các ấn phẩm lên dự toán chi tiết trình UBND tỉnh quyết định.
4. Cơ chế điều hành các khoản chi sự nghiệp kinh tế khác thuộc cấp tỉnh được thực hiện như sau:
4.1. Kinh phí xóa đói giám nghèo:
Sau khi dự án xóa đói giảm nghèo được UBND tỉnh phê duyệt, tùy theo tiến độ triển khai, Sở Tài chính Vật giá chuyển kinh phí qua Ngân hàng người nghèo để thực hiện cho vay. Ngân hàng người nghèo có trách nhiệm cho vay theo các dự án được duyệt, đồng thời đôn đốc thu hồi các khoản cho vay đã đến hạn trả, cùng với kinh phí ngân sách hàng năm tạo nên quỹ xóa đói giảm nghèo của tĩnh để cho vay luân chuyển.
4.2. Kinh phí bù lỗ doanh nghiệp công ích:
Căn cứ dự toán chi ngân sách được HĐND
tĩnh thông qua, giao Sở Tài chính - Vật giá chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng các ngành có liên quan lên kế hoạch phân bổ cấp bù lỗ trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao cho từng đơn vị.
Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch cấp bù của Chủ tịch UBND tỉnh và tiến độ thực hiện kế hoạch, Sở Tài chính - Vật giá chuyển kinh phí cho các đơn vị. Sau khi kết thúc năm, các DNNN hoạt động công ích được hưởng khoản kinh phí cấp bù có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư và ngành, chủ quản.
4.3. Kinh phí sự nghiệp giao thông:
Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua và quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí Ngân sách cho sự nghiệp giao thông. Giao cho Sở Tài chính - Vật giá chủ trì phối họp với Sở Kế hoạch Đầu tư và Sở Giao thông vận tải phân khai cụ thể theo nội dung và chi tiết theo mục lục ngân sách Nhà nước. Đối với công việc sửa chữa nhỏ mang tính chất duy tu, bảo dưỡng thì hàng tháng căn cứ vào khả năng Ngân sách, Sở Tài chính Vật giá chuyển kiinh phí cho Sở Giao thông vận tải để cấp cho các đoàn quản lý thỦy bộ. Riêng sửa chữa lớn, sửa chữa vừa thì phải thực hiện đúng Công văn số 2489/TC/NSNN ngày 16/8/ 1997 về quản lý cấp phát vốn sự nghiệp kinh tế có tính chất XDCB. Căn cứ vào khối lượng thực tế hoàn thành ( có nghiệm thu A - B), Sở Tài chính Vật giá chuyển cho Sở Giao thông thanh toán cho các đơn vị thi công (B) theo các hạng mục công trình.
Điều 20
Chi cho chương trình mục tiêu:
Vào đầu năm, căn cứ vào chỉ tiêu vốn CT- MT của Trung ương giao, Sở Kế hoạch Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá và Sở chủ quản tiến hành phân bổ vốn cho các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định. Việc phân bổ vốn thực hiện trên nguyên tắc: Dựa vào phân bổ chi tiết của Trung ương, phần còn lại được bố trí cho các đơn vị có nhu cầu thiết yếu.
1. Đối với nguồn kinh phí có tính chất XDCB:
Sau khi có quyết định của UBND tỉnh. Trách nhiệm cấp phát và quản lý được phân định như sau:
Vốn XDCB để đầu tư cho các dự án đầu tư hoàn chỉnh, có quy mô lớn được cấp phát và quản lý qua Cục Đầu tư phát triển.
Vốn XDCB cho các dự án nhỏ, lẻ có tính chất hỗ trợ, vốn tăng cường cơ sở vật chất, vốn dành để mua sắm thiết bị thì Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm cấp phát và quản lý hoặc ủy quyền cho UBND các huyện theo phân cấp để thực hiện.
2. Đối với các nguồn kinh phí bố trí cho chi thường xuyên và cho các chương trình (chống ma túy, mại dâm, KHHGĐ, tiêm chủng, xóa mù...) Sở Tài chính Vật giá thông báo cho các đơn vị được thụ hưởng và tiến hành cấp phát, quản lý theo chế độ hiện hành .
Điều 21
Chỉ cho quốc phòng an ninh:
Trên cơ sở kinh phí cho quốc phòng an ninh được HĐND tỉnh thông qua, Sở Tài chính Vật giá căn cứ vào nhiệm vụ chi thường xuyên theo quy định tại Thông tư 91/1998/TTLB-BTC-BQP ngày 29/6/1998 của Liên Bộ Tài chính - Quốc phòng để phân bổ cho các đơn vị (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng Tỉnh, Công an tỉnh) để trình UBND tỉnh quyết định. Ở huyện: Kinh phí an ninh quốc phòng được cân đối trong dự toán Ngân sách cấp huyện và do huyện trực tiếp chi trả chi cho những nội dung chi thường xuyên theo chế độ quy định (Thông tư 91/1998/TTLB-BTC-BQP).
Điều 22
Chi quản lý hành chính (bao gồm cả Nhà nước, Hội đồng nhân dân, Đảng, Đoàn thể...)
1. Chi quản lý hành chính của cấp nào được tổng hợp vào dự toán Ngân sách cấp đó. Trên cơ sở dự toán Ngân sách được HĐND tỉnh thông qua và quyết định phân bổ dự toán của Chủ tịch UBND tỉnh, các ngành, các huyện phải thực hiện chi quản lý hành chính theo đúng dự toán được duyệt. Tuyệt đối không được dùng các nguồn kinh phi khác để chi quản lý hành chính. Kho bạc Nhà nước phải giám sát chặt chẽ các khoản chi tiêu hành chính.
2. Thực hiện theo Luật Ngân sách Nhà nước Đảng Ủy cấp nào thì dự toán chi ngân sách Đảng được cân đối vào dự toán chi ngân sách cấp đó. Cơ quan Tài chính các cấp thực hiện việc cấp phát kinh phí cho cơ quan Đảng các cấp theo Thông tư 04/TTLB ngày 24/9/1997 của Liên Bộ Tài chính - Ban Tài chính quản trị Trung ương là hình thức cấp phát bằng lệnh chi tiền trên cơ sở dự toán năm đã được phân bổ chi tiết theo mục lục ngân sách Nhà nước.
3. Kinh phí hoạt động của HĐND: Thường trực HĐND tỉnh căn cứ vào tiêu chuẩn định mức ngân sách quy định và khả năng ngân sách của tỉnh để quyết định dự toán kinh phí HĐND toàn tỉnh, có phân ra cho từng cấp tỉnh, huyện, xã và chi tiết theo các nội dung chi.
Trên cơ sở đó kinh phí HĐND cấp nào thì được tập hợp chung vào dự toán kinh phí của văn phòng UBND cấp đó để cân đối vào nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách. Chủ tịch HĐND các cấp chịu trách nhiệm điều hành nguồn kinh phí hoạt động của HĐND cấp mình theo đúng dự toán được duyệt. Văn. phòng UBND các cấp có trách nhiệm đảm bảo kinh phí cho hoạt động của HĐND theo kế hoạch của HĐND trong phạm vi dự toán được giao và tiến độ cấp phát của cơ quan tài chính. Để tiện việc theo dõi và đáp ứng kịp thời kinh phí cho HĐND, văn phòng UBND các cấp (tỉnh, huyện) được mở tiểu khoản thuộc tài khoản văn phòng để theo dõi chi nguồn kinh phí HĐND theo đúng chế độ quy định.
Điều 23
Chi cho ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã):
Thực hiện Luật NSNN, xã là một cấp Ngân sách hoàn chỉnh trong cơ cấu Ngân sách Nhà nước. Các khoản phát sinh về chi ngân sách xã được tổng họp, phản ánh vào tài khoản thu chi ngân sách xã mở tại KBNN theo Quyết định số 827/1998/QĐ-BTC ngày 4/7/1998 của Bộ Tài chính.
Việc lập, chấp hành, kế toán và quyết toán ngân sách xã thực hiện theo chế độ hiện hành. Ban Tài chính xã xây dựng dự toán chi tiết ngân sách xã theo mục lục NSNN trình Chủ tịch UBND xã để trình HĐND xã quyết định.
Trong dự toán chi ngân sách xã, tỉnh đảm bảo đủ 100% cho các khoản chi: Lương hưu, trợ cấp 202, phụ cấp HĐND xã, lương cán bộ chức danh vùng núi cao. Các khoản này tỉnh sẽ cân đối đủ 100% cho ngân sách huyện để cấp cho xã. Các khoản chi còn lại xã phải tự cân đối từ các khoản thu cố định và thu điều tiết đã được phân cấp.
Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán, lập báo cáo kế toán chi ngân sách cho từng xã.
Điều 24
Chi nguồn dự phòng:
Kinh phi dự phòng được bố trí từ 3-5% trên tổng chi của mỗi cấp ngân sách và dự phòng của ngân sách cấp nào thì do Chủ tịch UBND cấp đó điều hành để khắc phục những hậu quả thiên tai địch họa và giải quyết các nhu cầu đột xuất do chưa được bố trí trong dự toán ngân sách được giao mà sau khi sắp xếp lại các khoản chi các ngành; các cấp, các đơn vị vẫn không xử lý được. Cơ quan tài chính các cấp căn cứ vào quyết định của Chủ tịch UBND cùng cấp để giải quyết nguồn dự phòng cho các đơn vị. Giám đốc Sở Tài chính Vật giá được giải quyết không quá 10% dự phòng của ngân sách tỉnh.
Định kỳ 3 tháng một lần Giám đốc Sở tài chính Vật giá báo cáo tình hình sử dụng nguồn kinh phí dự phòng để Chủ tịch UBND tỉnh biết.
Điều 25
1.Các cấp ngân sách tiếp tục thực hiện điều hành các khoản chi thường xuyên bằng 90% dự toán được giao (không tính tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi trả nợ, chi đầu tư phát triển, nguồn vốn vay và nguồn vốn viện trợ). Để dự phòng 10%, nếu trong năm không có nhu cầu chi đột xuất và chỉ tiêu kế hoạch thu hoàn thành thì cuối năm cấp phát theo chủ trương của Chính phủ.
2. UBND tỉnh Ủy quyền cho Giám đốc Sở Tài chính Vật giá giao dự toán chi tiết chi ngân sách cho các đơn vi dự toán trực thuộc tỉnh chỉ bằng 90% dự toán chi đã được HĐND tỉnh quyết định (trừ các khoản lương, các khoản có tính chất lương, chi trả nợ, chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên từ các nguồn vay và viện trợ nước ngoài), giao dự toán chi tiết ngân sách huyện (thành phố, thị xã) bằng mức 100% theo phương án phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh đã được HĐND tỉnh quyết định. Căn cứ vào nguyên tắc trên, UBND huyện giao cho các đơn vị trực thuộc bằng 90% và cho ngân sách xã bằng 100% theo mức được HĐND quyết định.
III - VẾ TIẾT KIỆM CHỐNG LÃNG PHÍ
Điều 26
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi Ngân sách kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, quản lý chặt vốn và tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp, tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp. Các ngành, các cấp, các đơn vị phải thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Lệnh Chủ tịch nước số 2-L/CTN ngày 9/3/1998 và Quyết định số 1229/1998/QĐ-UB ngày 7/9/1998 của UBND tỉnh quy định về tiết kiệm chống lãng phí.
1. Tiếp tục đình chỉ việc xây dựng trụ sở mới và mua sắm xe ô tô con (trường hợp đặc biệt phải được sự đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh bằng văn bản). Các ngành chức năng (Thuế, Công an) không được làm các thủ tục cho đăng ký xe ô tô con cho các đơn vị nếu không có văn bản đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh. Trên cơ sở kết quả kiểm kê tài sản, đất đai khu vực HCSN và chế độ trang bị tài sản, thực hiện điều hòa tài sản từ nơi thừa sang noi thiếu để sử đụng có hiệu quả. Nghiêm cấm các đơn vị dùng kinh phí Ngân sách để đi chức tết, làm quà, biếu xén... Nếu đơn vị nào cố tình vi phạm, khi bị phát hiện thì thủ trưởng đơn vị và kế toán trưởng phải bồi hoàn và tùy theo mức độ để xử lý kỷ luật theo quy định.
2. Các đơn vị HCSN mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên, các đơn vị SXKD mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên phải đảm bảo đầy đủ các hồ sơ thủ tục: Hợp đồng, hóa đơn do Bộ Tài chính ban hành, thông báo giá của Sở Tài chính Vật giá thì Kho bạc Nhà nước mới được chi trả và đơn vị mới được quyết toán (riêng các loại tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên phải được sự đồng ý của UBND tỉnh, ngoài các thủ tục quy định trên còn phải có biên bản đấu giá).
3. Tiếp tục thực hiện tiết kiệm 5% giá trị dự toán xây lắp và kiến thiết cơ bản khác đối với các công trình đầu tư xây dựng được chỉ định thầu. Vốn tiết kiệm được sử dụng cho Cống tác chuẩn bị đầu tư.
4. Nghiêm cấm các đơn vị cấp trên huy động kinh phí của cấp dưới hoặc gửi nhiệm vụ chi cấp dưới không đúng thẩm quyền. Các đơn vị cấp dưới không được chi các khoản do cấp trên yêu cầu sai chế độ.
VI - THỰC HIỆN CÔNG KHAI TÀI CHÍNH
Điều 27
Thực hiện công khai tài chính ở tất cả các cấp ngân sách, tất cả các đơn vị sản xuất kỉnh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp.
1. Ngân sách cấp trên phải công khai với ngân sách cấp dưới.
+ Các định mức tiêu chuẩn, các nguyên tắc và phương thức phân bổ kinh phí ngân sách.
+ Nhiệm vụ thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ điều tiết, số được bổ sung từ ngân sách cấp trên.
2. Các doanh nghiệp Nhà nước phải thực hiện cồng khai tài chính về:
+ Định mức chi tiêu .
+ Các khoản chi hành chính, chi mua sắm tài sản trang thiết bị.
+ Các chế độ và nguyên tắc chi trả tiền lương, chế độ trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
+ Công khai hàng tháng các khoản thu nhập của cán bộ công nhân viên mà đơn vị cho hưởng.
+ Công khai, báo cáo tài chính hàng quý, hàng năm.
3. Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp.
+ Tổng mức ngân sách cấp và chi tiết từng
khoản.
+ Các khoản chi ngân sách
+ Định mức chi tiêu, các khoản chi mua sắm trang thiết bị (bao gồm giá cả, phí, nơi mua...) chi tiếp khách, hội nghị.
+ Công khai các dự toán và quyết toán chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa công trình.
+ Các khoản thu nhập hàng tháng theo chế độ mà cán bộ công nhân viên được hưởng.
4. Xã, phường, thị trấn công khai theo Nghị định của Chính phủ quy định và các văn-bản của các cấp có thẩm quyền về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
V- KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Điều 28
1.Về nguyên tắc mọi khoản chi NSNN đều phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở các khâu trước, trong và sau khi cấp phát. Tùy theo từng nội dung, tính chất của từng khoản chi để có biện pháp, phương pháp cấp phát, kiểm tra, kiểm soát phù hợp, đảm bảo cho mọi khoản chi thực hiện đúng chế độ, mục đích và tiết kiệm.
2. Thực hiện tốt Thông tư 40/1998/TT-BTC ngày 31/3/1998 của Bộ Tài chính về quản lý cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Kho bạc Nhà nước phải tổ chức kiểm soát các khoản chi Ngân sách theo đúng chính sách, chế độ. Cơ quan tài chính chỉ được cấp phát các khoản chi theo dự toán, có trong dự toán (trường họp đặc biệt phát sinh ngoài dự toán phải có quyết định của UBND tỉnh). Tất cả các trường họp cấp phát sai chế độ thì cơ quan tài chính phải chịu trách nhiệm. Nếu buông lỏng công tác kiểm soát chi, để đơn vị chi sai chế độ quy định thì kho bạc phải chịu trách nhiệm.
3. Giao cho Kho bạc Nhà nước kiểm tra lại tất cả các tài khoản hiện nay các cấp, các ngành, các đơn vị đang mở, để xóa ngay những tài khoản mở ngoài phạm vi cho phép, đồng thời hướng dẫn cho các đơn vị mở tài khoản theo đúng chế độ quy định. Nếu đơn vị tùy tiện trong việc mở tài khoản gây thất thoát cho ngân sách thì Kho bạc Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Chương III
Điều 29 : Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành cấp Tỉnh, Chủ tịch HĐND và UBND các Huyện, Thành, Thị chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Các quy định trước đây trái với quyết định này đều không có hiệu lực thực hiện.