QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Về việc Phê duyệt Chiến lược xuất khẩu (điều chỉnh) của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010 ỦY BAN NHÂN DÂN -
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dãn và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm
Căn cứ Quyết đinh sô 09/2002/QĐ-UB ngày 25/01/2002 ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng v/v " chỉ tiêu kê' hoạch và dự toán ngân sách năm 2002"; -
Căn cứ Quyết định số 150/2002/QĐ-UB ngày 27/12/2002 của Úy ban nhân dân thành phố Đà Nắng v/v "ban hành quy định một số vấn đề về mua sắm,quản lý đầu tư xây dựng địa bàn thành phố Đà Nang"; -
Căn cứ Công văn số' 517/CV/TU ngày 02/6/2003 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nằng về “ ý kiên Đề án Chiến lược xuất khẩu của thành phô' -
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Thương mại tại Tờ trình số 398/TT-STM ngẩy 22/4/2003 V/v “đề nghị phê duyệt (điều chỉnh) Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”; QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 : Phê duyệt kèm theo Quyết định này Chiến lược xuất khẩu (điểu chỉnh) cuả thành phô' Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010
Điều 2 : Giao Giám đốc Sở Thương mại chịu trách nhiệm triển khai thực hiện Chiến lược. Các Sở, Ban, Ngành và UBND các quận, huyện theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ trong quá trình thực hiện Chiến lược để có sự thống nhất giữa Chiến lược xuất khẩu với quy hoạch, chương trình hành động xuất khẩu của các ngành kinh tế - kỹ thuật trên địa bàn thành phố.
Điều 3 : Quyết định có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.
Điều 4 : Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Giám đốc các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Công nghiệp, Thương mại, Thủy sản - Nông lâm, Tài chính - Vật giá, Du lịch, Xây dựng, Địa chính - Nhà đất, Giao thông - Công chính, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước, Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển, Chủ tịch UBND các quận, huyện; Thủ trưởng các cơ quan đơn vị và Giám đốc các doanh nghiệp liên quan chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các nội dung Quyết định này./.
TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .
CHỦ TICH
(Đã ký)
Nguyễn Bá Thanh
CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU (ĐIỂU CHỈNH) CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 107/2003/QĐ-UB ngày 2 tháng 7 năm 2003 của UBND thành phô Đà Nẵng)
Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẩng (sau đây gọi tắt là Chiến lược) thời kỳ 1998 - 2010 đã được Thành ủy thông qua tháng 5/1998. Sau gần 5 năm thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, sự điều hành của ủy ban nhận dàn thành phố Đà Nắng, sự cố gắng của các Sở, các ngành; nhất là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khau; hoạt động xuất khẩu đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, khi xây dụng Chiến lược tiước đây, chúng ta chưa dự báo hết những nhân tố tích cực, những cơ hội và thách thức, những tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại; nhất là tiến trình thực hiện CEPT/AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Trung Quốc gia nhập WTO tác động đến tình hình xuất khẩu Đà Nans. Từ đó việc đánh giá và điều chỉnh một số đinh hướng, chỉ tiêu, giải pháp trong chiến lược phát ưiển xuất khẩu của Đà Nẵhg thòi kỳ đến năm 2010 là cần thiết.
I. Đánh giá tình hình thực hiện đề án Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng thời kỳ 1998 - 2002.
Thời kỳ 1998 - 2002, hoạt động xuất khẩu đã không ngừng phát triển, cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng phát triển nhanh, với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả thời kỳ tăng bình quân trên 10,93%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 19,1%, dịch vụ tăng 10,7%, góp phần kích thích phát triển kinh tế của khu vực miền Trung..
1. Một sô kết quả đạt được
1.1 Quy mô, tốc độ và cơ cấu.
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 5 năm đạt trên 1.139 triệu USD, tăng bình quân 15%/năm. Trong đó, khối kinh tế trurig ương tăng 15%, khối kinh tế địa phương tăng 11,9% và khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tang 11,3% và xuất khẩu dịch vụ tăng 35,7%. Xuất khẩu bình quân đầu người đạt 382 USD/người/ĩíăm (2002).
Vê cơ cấu mặt hùng xuất khẩu đã được cải tiến và đạt những kết quả khả quan. Tỷ trọng hàng xuất khẩu có hàm lượng tinh chế và chế biến liên tục tăng và đến năm 2002 đạt khoang 55% (năm 1997 đạt 40%). Điều đáng chú ý nhất là kim ngạch các sản phẩm công nghiệp chế biến và xuất khẩu dịch vụ tăng nhanh tạo sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tích cực.
Trong đó giá trị:
+ Nông lâm sản chiếm tỷ trọng 13,3%, tăng bình quân 10,3%/năm.
+ Thủy sản chiếm tỷ trọng 27,8%, tăng bình quân 12,3%/năm; trong đó hàng đông lạnh tăng 14,0%, hàng khô tăng 6,4%/năm.
+Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 50,8%, tăng bình quân 9,8%/năm. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm may mặc đạt 135,1 triệu USD, tăng bình quân 9,6% (đạt 50,59 triệu sản phẩm, tăng 7,8%); Giày các loại: đạt 136,2 triệu USD tăng bình quân 7,7% (đạt 22,23 triệu đôi, tăng 8,2%); thực phẩm chế biến 20,3 triệu USD tăng 40,1%, đồ chơi tre em: đạt 72,6 triệu USD tăng 13,0 %/năm, dăm gỗ đạt 40,1 triệu USD, đến cầy đạt 27,01 triệu USD.
Xuất khẩu dịch vụ: chiếm tỷ trọng 8,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng bình quân 35,7 %/nảm (gồm dịch vụ tại chỗ: lưu trú, dịch vụ kiều hối, bán hàng lưu niệm, tạm nhập tai xuất).
Như vậy, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực về cơ bản ổn định và có hướng phát triển cả về giá trị, cũng như khối lượng một số sản phẩm chủ lực: Thủy sản, da giày, may mặc, đồ chơi trẻ em, dăm gỗ và dịch vụ.
1.2. Thị trường và chủ thể tham gia xuất khẩu
Nét nổi bật về thị trường trong nhũng năm qua: chủ động mở rộng theo hướng đa phương hóa quan hệ kinh tế, tích cực thâm nhập các thị trường truyền thống và phắt triển thị trường mới. Đến nay, Đà Nẵng đã có quan hệ thương mại với hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng bình quân 6 thị trường / năm. Đây là một trong nhũng yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì tốc độ tăng trưỏng xuất khẩu cao và ổn đinh trong thời gian tương đối dài.
Xuất khẩu của Đà Nẵng chủ yếu hướng vào những thị trường có sức nhập khẩu lón: Nhật Bản, EU, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan... và đã có sự chuyển dịch từ EU sang Đông Bắc Á và Hoa Kỳ; cơ cấu thị trường xuất khẩu của Đà Nẵng: Nhật Bản: 25%, Hoa kỳ: 14,6%, EU: 27,5%, Asean: 8,4%, Trung Quốc: 4,5%, các nước khác 20%. Đặc biệt sau 1 năm hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng 72,1 %. (Thị trường Đông Bắc Á tăng bình quân 13,6%, Đông Nam Á tăng 12,8%, EU giảm (-1,9%), Đông Âu tăng 21,9%, Tây Á - Trung Đông tăng 13,7%, Châu Uc tăng 100,2% về giá trị kim ngạch xuất khẩu)
Các chủ thể tham gia xuất khẩu ngày càng tăng nhanh và đa dạng thành phần, năm 1997 chỉ có khoảng 1000 doanh nghiệp, nẳm 2002 có gần 2.400 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư mở rộng và đổi mới máy móc thiết bị tiên tiến, theo hướng tiếp cận các phương thức kinh doanh hiện đại của thế giới một cách nhạy bén, hiệu quả và tìm được chỗ đứng vững trên thị trường quốc tế.
Hoạt động dịch vụ phát triển theo xu thế tiếp cận hội nhập quốc tế và đa phương thức như hiện diện thể nhân, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, qua biên giới, bưóc đầu đáp ứng được những nhu cầu và định chế cơ bản của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Kết quả lượng khách quốc tế vào Việt Nam tăng bình quân trên 15%/năm, giá trị xuất khẩu dịch vụ tăng 35,7%/năm và tăng gấp 15 lần năm 1998. Các loại hình dịch vụ: ngân hàng; bưu chính viễn thồng tăng bình quân 25 -30 %/năm.
Tóm lại, với những kết quả trên, xuất khẩu được đánh giá là một trong nhữnp yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển, góp phần đáng kể vào việc hoan thành cơ bản các mục tiêu kinh tế - xã hội của thành phố, tạo nhiều việc làm, kích thích GDP tăng trưởng ổn định.
1.3. Một số nguyên nhân đạt được
Một là:Đường lối đổi mới và những cơ chế chính sách hợp lý của thành phố Đà Nẵng đã khơi dậy trí sáng tạo và thúc đẩy cac thành phần kinh tế phát triển, tăng thiĩ nhập dân cư, tích luỹ phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, mẫu mã, ha giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó thúc đẩy xuất khấu và cải thiện cơ cấu sản xuất;
Hai là:Những đổi mới cơ bản về quan điểm và đặc biệt là lãnh đạo thành phố luôn coi trọng và đật xuất khẩu là nhiệm vụ trọng tâm như: kịp thời hỗ trợ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát triển sản xuất; gắn lưu thông trong nước và xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các ngành sản xuất tham gia dịch vụ và hoạt động xuất khẩu;
Ba là:Chính phủ, các Bộ, Ngành trung ương đã ban hành nhiều hệ thống chính sách, pháp lụật liên quan đến công tác xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp ; Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho hoạt động xuất khẩu như các chương trình : trợ cấp, trợ giá, lập Quỹ hỗ trợ, Quỹ thưởng xuất khẩu, thành lập các trung tâm giới thiệu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tại nước ngoài...
2. Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại:
2.1. Một số hạn chế:
Quy mô xuất khẩu còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng còn thấp, hiệu quả chưa cao, chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra (tăng 20%/năm) nên chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của thành phố Đà Nẵng;
Nguồn hàng xuất khẩu tuy đa dạng hơn, song nhìn chung tỷ trọng hàng gia công vẫn còn lớn, mặt hang đơn điệu, nguồn hàng manh mún dẫn đến lộ thuộc thái quá vào một số mặt hàng chu lực. Cơ cấu hàng xuất khẩu mới dịch chuyển theo chiều rộng, chưa đi vào chiều sâu, chưa hình thành những ngành công nghiệp gắn kết với nhau để cùng hướng về xuất khẩu và tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị cao, chất lượng ổn định. Việc đầu tư mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu có quy mô lớn, công nghệ cao mang tính đột phá... của các doanh nghiệp chưa được ưu tiên; Nhiều ngành hàng kể cả những ngành hàng quan trọng như: may mặc; giày da, còn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (70%). Ngoài ra những sản phẩm khác như: thủ công mỹ nghệ, cơ điện... tính cạnh tranh còn thấp ngay cả thị trường trong nước;
Một số doanh nghiệp đã quan tâm đổi mới công nghệ, khuôn, mẫu... song vẫn chưa tạo được sức bật trong sản xuất hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp còn lúng túng trong việc đầu tư quảng bá sản phẩm, thương hiệu hàng hóa, thiết kế mẫu mã và đa dạng hóa -chủng loại sản phẩm làm cho khả năng cạnh ưanh của hàng hóa còn yếu.
Việc mở rộng thị trưòng xuất khẩu tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng nhu cầu; nhũng bạn hàng lớn ổn đinh không nhiều; hàng xuất khẩu vào thị trường trưng gian chiếm tỷ lộ cao (20%); sự hiểu biết về thị trường nước ngoài còn hạn chế. Qúa trình chuyển dịch thị trường chưa được tiến hành trên thế chủ động, chưa định hướng trên tầm nhìn dài hạn, chủ yếu mới là sự tự thích úng của các doanh nghiệp trước những thay đổi đột biến của tình hình. Có nhũng thị trường mới nhiều tiềm năng chưa được quan tâm khai phá;
Số lượng doanh nghiệp đăng ký mã số xuất nhập khẩu nhiều nhưng số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khấu còn ít (gần 100 doanh nghiệp chiếm 1/4 tống doanh nghiệp XNK và đại bộ phận là những doanh nghiệp vừa và nhỏ), thành phố chưa có các doanh nghiệp Nhà nước đầu đàn đủ mạnh để đảm bảo năng lực cạnh tranh trong khâu thiết kế mẫu mã, mở rộng thị trường; tổ chức gia công - sản xuất và cung ứng hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng ổn định...;
Đầu tư FDI vào chậm (51 dự án), nhiều doanh nghiệp FDI ngại mở rộng đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu khối này tăng trưởng thấp (11,3%) so với nhũng khối khác; Chưa đóng vai trò động lực trong tổ chức gia công, thị trường... cho những thành phần khác. Các thành phần kinh tế khác: tư nhân, HTX chỉ một số rất ít đầu tư hàng xuất khẩu còn lại chủ yếu làm dịch vụ thương mại trong nước.
2.2. Một số nguyên nhãn tồn tại
Thứ nhất:Điểm xuất phát về phát triển kinh tế của Đà Nẵng và khu vực miển Trung còn thấp, cơ cấu kinh tế (công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp) chưa được chuyển dịch đúng hướng. Nhiều doanh nghiệp chưa đi sâu nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược xuất khẩu của Đà Nẵng để phát triển nhằm khai thác lợi thế về vị trí, nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực để đầu tư, đổi mới công nghệ, sản xuất hàng xuất khẩu;
Thứ hai: Hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiên đầu tư, du lịch... mở rộng thị trường, kêu gọi đầu tư tuy đã có nhiều cố gắng; song hoạt động xúc tiến phần lớn theo sự vụ, trình độ, năng lực để tiếp cận, xử lý những định chế, thông lệ, luật pháp quốc tế vẫn còn mới mẻ. Do đó không thể tránh khỏi những lúng túng bị động; chưa đủ điều kiên để giám sát, phát hiện, hướng dãn những thiếu sót, sai phạm cho đối tác để phát triển mở rộng và hợp tác ổn đinh lâu dài;
Thứ ha: Công tác quản lý Nhà nước liên quan đến xuất khẩu của một số Sở, Ban ngành tuy đã có nhiều cải tiến, nhất là trong khâu cải cách thủ tục hành chính; nhưng nhìn chung còn khá thụ động; trong công tác định hướng, hỗ trợ giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp xuất khẩu còn nhiều lúng túng; thiếu cán bộ có trình độ cao vể chuyên môn nghiệp vụ;
Thứ tư:Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không ít lúng túng; cho tới nay có thể đánh giá vẩn đề này chỉ diễn ra ở cấp quản lý Nhà nước, một số ít doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp còn ưông chờ vào sự bảo hộ của Chính phủ và chính quyền địa phương. Chưa thấy tác động và thực thi trực tiếp từ doanh nghiệp, chưa hình thành chiến lược phát triển trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp để tiếp cận và khai thác lợi thế của các lộ trình cắt giảm thuế quan va dỡ bỏ các rào cản phi quan thuế.
II. Định hướng, mục tiêu phát triển xuất khẩu trong thời kỳ đến năm 2010
Hoạt động xuất khẩu trong thời kỳ đến năm 2010 là thực hiện những mục tiêu chung đã được Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nang lần thứ xvin với nội dung cỡ bản:
1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng "Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp”, chú trọng chuyển dịch cơ cấu sản xuất hướng về xuất khẩu; ưu tiên đầu tư phát triển các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Tăng cường xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và tiếp tục duy trì ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu đi đôi với đẩy mạnh hoạt động trung chuyển hàng hóa, phát luồng - bán buôn; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm XNK của khu vực.
2. Thực hiện Quyết định số 113/2001/QĐ-TTg ngày 30/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt (điều chỉnh) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2010 và Nghị Quyết Thành Đảng Bộ lần thứ XVIII về các chỉ tiêu phát triển kinh tế thời kỳ 2001 - 2005.
về kim ngạch xuất khẩu:phấn đấu kim ngạch xuất khẩu vào năm 2010 đạt 1.720 triệu USD. Trong đó chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu thời kỳ 2001-2005 là: 20% /năm, đạt 580 triệu USD vào năm 2005.
Về cơ cấu:Tiếp tục gia tăng tỷ trọng của sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô.
Về thị trường: Đa dạng hóa, đa phương hóa thị trường, tập trung những thị trường trọng điểm có sức mua (nhập khẩu) lớn của Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng.
III. Một số giải pháp để hoàn thiện và phát triển xuất khẩu của thành phố Đà Nâng thời kỳ đến năm 2010.
3.1. Giải pháp phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
3.1.1. Nhóm sản phẩm thủy nông lãm sản; hạt nhãn của nhóm này là thủy hải sản xuất khẩu.
Mục tiêu chiên lược phát tr thủy sản của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010:
Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu dệt may đến năm 2005 đạt 80 triệu USD, tăng bình quân từ 15,2%; Và đến năm 2010 đạt từ 155 triệu USD, tăng bình quân 14,1% thời kỳ 2006 - 2010;
Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu da giày đến năm 2005 đạt từ 55 triệu USD, tăng bình quân 24,8%; Và đến năm 2010 đạt từ 106 triệu USD, tăng bình quân 14% thời kỳ 2006 - 2010.
Mục tiêu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ - gỗ gia dụng của thành phố đến năm 2005 đạt 11 triệu USD, tăng bình quân 42,5%/năm. Và đến năm 2010 đạt từ 45 triệu USD tăng bình quân 32,6%.
Mục tiêu xuất khẩu nhựa, đổ chơi trẻ em đến năm 2005 đạt 25 triệũ USD tăng bình quân 34,8%/năm; Và đến năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu: 40 triệu USD, tăng bình quân 10%.
Mục tiêu đến năm 2005 đạt 5 triệu USD và đến năm 2010 đạt 18 triệu USD tăng bình quân 50 %/năm.
Mục tiêu phấn đấu tăng bình quân 15-20%/năm đến năm 2010 dự kiến đạt 20-30 triệu USD
Chương trình quốc gia xây dựng thương hiệu Việt Nam.
Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia....