UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 25/2001/CT-UB CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đồng Hới, ngày 17 tháng 7 năm 2001 CHỈ THỊ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH V/v xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2001 Thực hiện Chỉ thị số 16/2001/CT-TTg ngày 21/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2002. Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những mặt còn hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện những nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm vụ còn lại trong 6 tháng cuối năm; Đồng thời khẩn trương triển khai xây dựng kế hoạch năm 2001 với những yêu cầu và nội dung sau đây: I. Nội dung và nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2002. Năm 2002 là năm thứ 2 triển khai thực hiện phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 13 thông qua. Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 phải được quán triệt và cụ thể hoá vào nội dung kế hoạch năm 2002 của từng ngành, từng địa phương, đơn vị. Cụ thể, cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: 1. Phấn đấu đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, 7,5%, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững, tạo điều kiện để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn trong những năm sau. - Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, coi trọng đảm bảo an ninh lương thực. Tăng cường ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, chú trọng đầu tư cho khâu giống, cây, con, giống thuỷ sản, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch. Củng cố và mở rộng vùng lúa thâm canh cao sản, mở rộng diện tích cây công nghiệp, tập trung đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ. Tổ chức tốt khâu dịch vụ giống, kỹ thuật, phân bón. Tiếp tục có các chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ đối với một số sản phẩm nông nghiệp quan trọng có giá trị kinh tế cao. Mở rộng diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng, chuẩn bị giống, đất tốt để triển khai kế hoạch trồng cây ngay từ đầu năm 2002. Củng cố và nâng cao hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ, đẩy mạnh phong trào nuôi tôm, chú trọng nuôi tôm thâm canh gắn với tăng năng lực chế biến và chất lượng hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. Phát triển mạnh ngành nghề và kết cấu hạ tầng ở nông thôn, cải thiện đời sống dân cư nông thôn. Chủ động đối phó với tình hình diễn biến xấu của thời tiết. - Phát triển công nghiệp với nhịp độ cao gắn kết với thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát huy năng lực sản xuất của các dự án mới đi vào sản xuất. Tiếp tục đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực quản lý điều hành và tay nghề cho công nhân nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Ưu tiên phát triển lĩnh vực công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu có thị trường, có thế mạnh sản xuất từ nguyên liệu tại địa phương. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chất lượng, hiệu quả cao. Triển khai tích cực 4 chương trình phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh. Tăng cường công tác quản lý và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp cổ phần đi vào sản xuất kinh doanh hiệu quả. - Phát triển, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường cả trong nước và ngoài nước. Tích cực đầu tư, phát triển thêm các tuyến, các điểm du lịch; nâng cao chất lượng các dịch vụ, từng bước đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Tiếp tục phát triển dịch vụ Bưu chính viễn thông, Vận tải, Tài chính, Ngân hàng, Khoa học kỹ thuật… 2. Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, chấn chỉnh và tăng cường lực lượng sản xuất, chế biến sản phẩm hàng hoá xuất khẩu, củng cố các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng và phát triển thị trường mới, có chính sách khuyến khích để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tăng cường công tác quản lý để sử dụng có hiệu quả các dự án ODA, NGO, chủ động xây dựng các dự án đầu tư mới và có các chính sách để thu hút thêm nguồn vốn viện trợ, vốn đầu tư nước ngoài. 3. Khuyến khích các thành phần kinh tế huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả đầu tư. Đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại, tiếp tục đầu tư kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn và các công trình hạ tầng khác. Thực hiện tốt quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, tăng cường chỉ đạo kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khắc phục sự chậm trễ trong công tác chuẩn bị đầu tư và tiến độ thực hiện. 4. Tiếp tục đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh việc phổ cập Trung học cơ sở, củng cố các cơ sở dạy nghề. Từng bước điều chỉnh quy mô và cơ cấu đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển của nguồn nhân lực. Thực hiện việc cải cách chương trình giáo dục ở bậc phổ thông. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho giáo dục đào tạo. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, coi trọng việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, các kết qủa nghiên cứu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. 5. Giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc của xã hội, nhất là vấn đề xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm. Tiếp tục thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo, nâng dần mức sống các tầng lớp dân cư. Thực hiện tốt các chế độ chính sách để phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá xã hội, giáo dục, y tế, thông tin, tuyên truyền, văn học nghệ thuật… Đẩy mạnh xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao… để huy động thêm nguồn lực xã hội phát triển các lĩnh vực này. Thực hiện tốt chính sách đối với người có công, làm tốt việc chăm sóc bảo vệ thiếu niên nhi đồng. 6. Tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị và trật tự kỹ cương trong hoạt động kinh tế xã hội. Đẩy mạnh phòng chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội. 7. Đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính, tiếp tục sắp xếp lại bộ máy quản lý Nhà nước, tinh giản biên chế, đổi mới lề lối, phong cách làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức và bộ máy các cấp các ngành; nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. II. Nhiệm vụ về dự toán ngân sách địa phương năm 2002. - Dự toán thu ngân sách phải đảm bảo nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện chính sách khuyến khích tích luỹ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, tạo nguồn thu lâu dài, bền vững. - Dự toán thu ngân sách được xác định trên cơ sở phân tích, dự báo các yếu tố tăng trưởng kinh tế, thị trường, giá cả, ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách, chế độ thu, thực hiện đầy đủ các quy định ban hành về khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng xuất khẩu, mở rộng thị trường. Thực hiện các biện pháp cải tiến quản lý nguồn thu, tăng cường chống thất thu, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Dự toán thu ngân sách phải có tính tích cực, vững chắc, tính khả thi cao, đảm bảo có mức tăng tối thiểu so với năm trước là 10%. - Dự toán chi ngân sách tập trung thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời quán triệt nguyên tắc tiết kiệm, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, bố trí tăng dự phòng để chủ động đối phó với thiên tai lũ lụt, xử lý những nhiệm vụ đột xuất phát sinh. - Bố trí dự toán chi ngân sách năm 2002 tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ưu tiên đầu tư kiên cố hoá kênh mương và đường giao thông nông thôn, ưu tiên vốn để phát triển nông nghiệp như trồng và chăm sóc cao su, cải tạo và phát triển giống cây, con, hỗ trợ phát triển giống lúa mới cao sản, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tập trung cho thực hiện có hiệu quả 4 chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh. Đảm bảo kinh phí phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, y tế, văn hoá, tăng đầu tư thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và các vấn đề xã hội khác. - Cân đối ngân sách: dự toán thu chi ngân sách các huyện thị được xây dựng theo nguyên tắc ổn định 3 năm từ 2000 - 2003, trong đó số bổ sung cân đối từ ngân sách cho chi thường xuyên tăng 3%, số thu tăng thêm trên địa bàn được hưởng theo chế độ hiện hành. Số thu tăng này chủ yếu bố trí cho đầu tư phát triển, hạn chế bố trí chi thường xuyên. III. Tiến độ xây dựng kế hoạch và phân công thực hiện. 1. Về tiến độ: - Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá tổ chức hướng dẫn cho các Sở, ngành, huyện thị tiến hành xây dựng kế hoạch năm 2002 trước ngày 25/7/2001. - Các ngành, huyện thị xây dựng kế hoạch của đơn vị mình xong trước 15/8/2001. - Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Thường vụ Tỉnh uỷ trước ngày 20/8/2001 để hoàn chỉnh, báo cáo với Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 30/8/2001. 2. Về phân công thực hiện: a) Sở Kế hoạch & Đầu tư
căn cứ vào Chỉ thị 16/2001/CT-TTg ngày 14/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ và văn bản hướng dẫn số 76/BKH-TH ngày 27/6/2001 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, soát
xét lại tình hình thực hiện kế hoạch năm 2001, phối hợp với Sở Tài chính Vật giá tính toán xây dựng các phương án, các cân đối lớn để làm cơ sở hướng dẫn cho các Sở, ngành huyện thị xây dựng kế hoạch năm 2002. Sở Kế hoạch & Đầu tư hướng dẫn xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh và làm việc với các ngành, huyện thị về kế hoạch này. Chủ trì và phối hợp với Sở Tài chính Vật giá dự kiến về kế hoạch đầu tư phát triển và phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn chương trình quốc gia và chương trình mục tiêu khác. b) Sở Tài chính Vật giá thông báo số hướng dẫn về dự toán thu chi ngân sách Nhà nước năm 2002. Chủ trì phối hợp với Cục thuế, Sở Kế hoạch & Đầu tư và các ngành có liên quan xây dựng và tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước năm 2002. c) Các Sở, Ngành, huyện thị phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá xây dựng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách thuộc lĩnh vực mình phụ trách sát đúng với tình hình thực tế và đảm bảo tính khả thi cao. Trên cơ sở tính toán các nguồn lực huy động, tiến hành xây dựng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, các giải pháp và các cơ chế chính sách, kiến nghị bổ sung, sửa đổi các cơ chế chính sách hiện hành nhằm hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra. - Các Sở, Ngành chủ quản các chương trình mục tiêu cần có báo cáo cụ thể và làm việc với Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá về tình hình thực hiện năm 2001, nhiệm vụ và dự toán kinh phí năm 2002 để thực hiện các chương trình thuộc lĩnh vực phụ trách. - Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, từ nay đến hết năm các ngành, các địa phương đơn vị phải dồn sức phấn đấu hoàn thành kế hoạch vốn đã bố trí của năm 2001, đồng thời chủ động thống nhất với các cơ quan liên quan để lập các dự án khả thi, báo cáo tỉnh xem xét đưa vào danh mục bố trí vốn trong kế hoạch năm 2002, chấm dứt tình trạng bố trí vốn khi chưa có dự án. - Kế hoạch năm 2002 của các ngành, huyện thị phải được bàn bạc thảo luận trong tập thể lãnh đạo ngành, Thường vụ cấp uỷ, Thường trực HĐND và UBND để có sự thống nhất chủ trương và chỉ đạo điều hành. Xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2002 là công việc quan trọng và cấp bách. Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị trực tiếp chỉ đạo việc triển khai xây dựng kế hoạch năm 2002 của cấp, ngành mình, đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ theo quy định./. Nơi nhận: - TV Tỉnh uỷ; b/c - TT HĐND tỉnh; - TT UBND tỉnh; - Các Sở, Ngành cấp tỉnh; - UBND các huyện, thị xã; - Lưu. TM. UBND TỈNH QUẢNG BÌNH CHỦ TỊCH (Đã ký) Đinh Hữu Cường