QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Về việc ban bành qui định tạm thời áp dụng thực hiện các biện pháp cấp bách trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH -
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/6/1994.
Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 19/8/1991. -
Căn cứ Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng. -
Căn cứ Thông tư liên tịch số 102/1999/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 21/8/1999 của Liên Bộ Tài chính - Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn trích lập, quản lý và sử dụng quỹ chống chặt, phá rừng và sản xuất, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép; Công văn số 4589/TC/CSTC ngày 21/5/2001 của Bộ Tài chính. -
Căn cứ Nghị quyết số 14/2003/NQ-HĐND của HĐND tỉnh khoá VI - Kỳ họp thứ tám, từ ngày 17 đến ngày 18 tháng 7 năm 2003 về việc thuận chủ trương cho áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm lần đầu trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng. -
Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Thông báo số 84/TB-VPCP ngày 17/6/2003 của Văn phòng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng. -
Xét đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm và Chánh Văn phòng UBND tỉnh: QUYẾT ĐỊNH Điều I: Nay ban hành qui định tạm thời về việc áp dụng thực hiện các biện pháp cấp bách trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước (kèm theo Quyết định này).
Điều 2
Các ông (bà) Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan, các thành viên Ban chỉ đạo bảo vệ rừng tỉnh, UBND các huyện, thị có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 30 ngày kể từ ngày ký ban hành; được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài tỉnh, đế toàn thể nhân dân và cán bộ, công chức biết và chấp hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Hưng
QUY ĐỊNH TẠM THỜI
Về việc áp dụng thực hiện các biện pháp cấp bách trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
(Ban hành kèm theo Quyết định số:.95/2003/QĐ-UB ngày 15/10/2003 của UBND tỉnh).
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Phước, tình trạng chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã, lấn chiếm đất rừng, khai thác, mua, bán, tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép chưa,giảm; tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra phổ biến.
Diện tích rừng bị thu hẹp, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm sử dụng không đúng mục đích dẫn đến thiên tai lũ lụt, hạn hán làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, môi sinh không những làm thiệt hại cho đời sống, kinh tế - xã hội trong tỉnh và các khu vực lân cận, mà còn làm rối loạn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng. Trong khi các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ sức răn đe, biện pháp quản lý và xử lý vi phạm của các ngành, các cấp còn chưa nghiêm, một số người, tổ chức lợi dụng tình trạng khó khăn của tỉnh, tiếp tục có các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản.
Vì tính chất, mức độ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý động vật rừng của tỉnh Bình Phước đã đến mức độ nghiêm trọng. Trước tình hình cấp bách, cần thiết phải tăng cường hiệu lực pháp luật để răn đe, ngăn chặn, tiến tới chấm dứt tình trạng phá rừng, lấy cắp, mua, bán, tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép; thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 12/2003/CT-TT2 ngày 16/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Thông báo số 84/TB-VPCP ngày 17/6/2003 của Văn phòng Chính phủ và Nghị quyết số 14/2003/NQ-HDND ngày 18/7/2003 nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản. UBND tỉnh Bình Phước ban hành và áp dụng quy định tạm thời thực hiện các hình thức xử phạt hành chính bổ sung tăn2 nặng qui định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản kể cả lần đầu.
Nay, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này sẽ áp dụng xử lý các hình thức xử phạt bổ sung như sau:
Điều 1
Đối tượng, phạm vi áp dụng:
Qui định này áp dụng thực hiện xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản bằng những hình thức xử phạt bổ sung theo tình tiết tăng nặng ngay lần đầu vi phạm, quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được phát hiện trên địa bàn tỉnh và điêu chỉnh các mốì quan hệ xử lý các vi phạm, phối hớp thực hiện trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản của các cấp, các ngành trong tỉnh.
Điều 2
Áp dụng các hình thức xử lý phạt hành chính bô sung tăng nặng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh:
1 - Đối với các hành vi vi phạm vận chuyển trái phép lâm sản và động vật hoang dã:
Tịch thu tất cả các tang vật, phương tiện chuyên dùng vi phạm tham gia vận chuvển trái phép lâm sản trên lâm phân của các Lâm trường, Ban quản lý rừng cũng như chạy trên đường bộ, đường sông, kể cả lần đầu, không cần xét tính chất, mức độ.
Đối với xe ô tô, xe chuyên dụng, xe chở khách vận chuyển trái phép lâm sản dưới 0,5m3 gỗ tròn thông thường hoặc 0,1m 3 gỗ qúi hiếm hoặc lâm sản khác có giá trị đến 1.000.000 đồng (theo giá thị trường) tịch thu lâm sản, động vật hoang dã, tạm giữ xe 60 ngày; nếu tái phạm tịch thu xe. Vận chuyển lâm sản trái phép trên 0,5m3 gỗ tròn thông thường hoặc 0,1 m3 gỗ qúi hiếm hoặc lâm sản khác có giá trị đến 1.000.000 đồng (theo giá thị trường) tịch thu lâm sản, động vật hoang dã, tịch thu xe ngay lần đầu vi phạm.
Tước giấy phép lái xe ô tô, xe mô tô không thời hạn của những người trực tiếp tham gia vận chuyển trái phép lâm sản và động vật hoang dã. Các ngành chức năng: Công an, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Biên phòng sau khi có biên bản, hồ sơ vi phạm, quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền được phép thu giữ giấy phép lái xe và thông báo cho cơ quan cấp giấy phép biết để theo dõi.
2 – Đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực khai thác trái phép lâm sản; chặt phá rừng; khai hoang cày ủi rừng tự nhiên và rừng trồng trái phép; săn bắt động vật hoang dã: Tịch thu tất cả các phương tiện, công cụ, tang vật có liên quan trực tiếp đến các hành vi vi phạm.
Buộc trồng lại rừng do các hành vi vi phạm nêu trên gây ra bằng hình thức qui ra giá trị thiệt hại bằng tiền và giao cho chủ rừng trồng lại rừng.
Riêng đối với động vật hoang dã còn sống, phải đưa đi cứu hộ hoặc thả về môi trường sống của chúng.
3 – Đối với các đối tượng mua, bán, kinh doanh, chế biến lâm sản, động vật hoang dã: Kiểm tra, phát hiện nếu vi phạm tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ lập hồ sơ ban đầu. Tuỳ theo mức độ vi phạm xử lý hành chính hoặc khởi tố hình sự theo qui định và thu hồi giấy phép kinh doanh.
4 – Đối với các đối tượng có hành vi nhục mạ, chống người thi hành công vụ; dùng các phương tiện khác cản trở việc truy bắt nhằm mục đích tẩu tán tang vật, phương tiện đang vận chuyển trái phép lâm sản, động vật hoang dã: Người được giao thi hành công vụ có quyền bắt giữ đối tượng và tạm giữ các công cụ, phương tiện dùng để cản trở việc truy bắt lâm sản, động vật hoang dã vận chuyển trái phép, đồng thời lập hồ sơ chuyển ngành Công an xử lý.
5 - Người không trách nhiệm không được vào rừng: Chủ rừng có trách nhiệm trục xuất ra khỏi rừng, tịch thu các phương tiện, kế cả khi chưa vi phạm, báo ngay cho chính quyền sở tại, cơ quan chức năng để xử lý.
Điểu 3: Trách nhiệm trong quá trình thực hiện qui định:
Các ngành chức năng có liên quan trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng: Công an, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Biên phòng khi phát hiện các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản đuợc phép thụ lý hồ sơ vi phạm, tham mưu cho cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính theo đúng qui định pháp luật hiện hành.
Các ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với ngành Kiểm lâm để đóng búa Kiểm lâm xác nhận lâm sản về số lượng, chủng loại, phẩm chất; phối hợp với ngành Tài chính - Vật giá bán lâm sản, phương tiện, tang vật tịch thu theo đúng qui định hiện hành.
Ngành Kiểm lâm có trách nhiệm theo dõi, giám sát thực hiện các qui định tại
Điều 2 của quy định này.
Theo dõi việc xử lý và báo cáo kết quả xử lý: Các ngành chức năng phải theo dõi, cập nhật số liệu các vụ vi phạm đã xử lý (biển số đăng ký xe, tên lái xe, tên chủ xe, tên chủ hàng, ngày ra Quyết định xử phạt hành chính...) và các vụ vi phạm đã tham mưu cho cấp có thẩm quyền xử lý, báo cho ngành Kiểm lâm định kỳ 2 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng để tổng hợp. Chi cục Kiểm lâm sau khi tổng hợp số liệu toàn tỉnh sẽ thông báo lại cho từng ngành chức năng biết để xử lý các đối tượng tái phạm nghiêm khắc hơn.
Các ngành báo cáo kết quả xử lý theo định kỳ vào ngày 15 hàng tháng cho UBND các cấp theo các mẫu biểu, hướng dẫn của Chi cục Kiểm lâm để tổng hợp báo cáo lên UBND tỉnh.
Điểu 4: Sử dụng, quản lý tiền phạt vi phạm hành chính; tiền bán lâm sản và phương tiện, tang vật tịch thu:
Lâm sản và tang vật tịch thu sau một tháng: phải bán, sung vào công qũy Nhà nước theo qui định hiện hành của Bộ Tài chính và xử lý tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán lâm sản, phương tiện, tang vật tịch thu theo qui định tại Thông tư liên tịch số 102/1999/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 21/8/1999.
Sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định, số tiền còn lại tiến hành trích 30% lập "Qũy chống chặt, phá rừng và sản xuất, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép’’; số 70% còn lại nộp ngân sách Nhà nước.
UBND các huyện, thị xã dùng phần 70% nộp ngân sách từ nguồn thu xử phạt hành chính, bán phương tiện, tang vật tịch thu trên địa bàn huyện, thị xã vào việc cấp cho các hạng mục trong kế hoạch, phương án bảo vệ rừng của Ban chỉ đạo bảo vệ rừng cấp huyện, thị xã và xã đã được duyệt của cấp thẩm quyền như: Chi phí tuần tra, kiểm tra, truy quét; mua sắm công cụ hỗ trợ; trang bị phương tiện kỹ .thuật, thông tin, liên lạc, đi lại; tuyên truyền, giáo dục, vận động phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ rừng; sơ, tổng kết công tác bảo vệ rừng; văn phòng phẩm....
Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho UBND tỉnh duyệt kế hoạch, phương án bảo vệ rừng cấp huyện, thị xã hàng năm. Hạt Kiểm lâm tham mưu cho UBND huyện duyệt kế hoạch, phương án bảo vệ rừng các xã hàng năm.
Sở Tài chính - Vật giá, Kho bạc Nhà nước phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho UBND tỉnh về duyệt cấp kinh phí thực hiện kế hoạch, phương án bảo vệ rừng cấp tỉnh, huyện, thị xã theo định kỳ và đột xuất theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh; theo dõi, giám sát, kiểm tra việc sử dụng và quyết toán kinh phí này hàng tháng, quý, năm, đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí và hiệu qua công tác.
Điểu 5: Khen thưởng, kỷ luật:
1 - Khen thưởng:
Các tổ chức, cá nhân có công phát hiện hoặc cung cấp thông tin chính xác cho các cơ quan chức năng bắt giữ người và tổ chức khai thác, mua, bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép lâm sản hoặc tố giác các cá nhân, tổ chức có các hành vi can thiệp, che dấu cho người và tổ chức vi phạm được khen thưởng theo quy định hiện hành theo chế độ mua tin tại Công văn số 4589/TC/CSTC ngày 21/5/2001 của Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch số 102/1999/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 21/8/1999. Những vụ việc do UBND xã xử lý phạt theo thẩm quyền, tiền nộp vào ngân sách được trích thưởng theo quy định như các ngành chức năng khác.
Kinh phí khen thưởng được trích từ “Quỹ chống chặt, phá rừng và sản xuất, kinh doanh vận chuyển lâm sản trái phép”.
2 - Kỷ luật:
Xử lý nghiêm theo pháp luật đối với tổ chức, cá nhân có hành vi can thiệp, cản trở, che dấu dưới bất kỳ hình thức nào nhằm mục đích gây khó khăn cho việc kiểm tra, phát hiện, điều tra, xác minh, xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng có thẩm quyền; hoặc để cho cán bộ, nhân viên dưới quyền và thân nhân vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản mà không phát hiện, ngăn chặn cũng sẽ bị xử lý liên đới trách nhiệm.
Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có biện pháp xử lý thích đáng đối với cán bộ, công chức ở bất cứ ngành nào, cấp nào, chức vụ gì có trách nhiệm liên đới trong việc không xử lý hoặc xử lý không nghiêm, xử lý không kịp thời; dung túng, bao che; thiếu trách nhiệm để xảy ra vi phạm hành chính trong công tác xử lý thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 6
Tổ chức thực hiện:
Chi cục Kiểm lâm chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan triển khai và hướng dẫn việc thực hiện qui định này đến tận cơ sở.
Chi cục Kiểm lâm và các thành viên của Ban chỉ đạo bảo vệ rừng tỉnh có trách nhiệm giúp ƯBND tỉnh theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy định này và báo cáo kết quả thực hiện theo định kỳ tháng, qúy, năm về UBND tỉnh.
Trong quá trình thực hiện, nếu có các vấn đề phát sinh, vướng mắc yêu cầu các đơn vị báo cáo cho UBND tỉnh (qua Chi cục Kiểm lâm để tổng hợp) xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Điều 7
Điều khoản thi hành:
Qui định này có hiệu lực sau 30 ngày, kể từ ngày ký ban hành và được thông báo rộng rãi đến nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng./.