NGHỊ QUYẾT Về việc Thông qua Quy hoạch phát triển Điện lưc tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015, có
xét đến năm 2020 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA XI, KỲ HỌP THỨ 14
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003;
Căn cứ Luật Điện lực năm 2004;
Xét Tờ trình số: 26/TTr-UBND ngày 26/6/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc đề nghị thông qua Đề án Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, có xét đến năm 2020; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh, ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp, QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Thông qua Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, có xét đến năm 2020 (Có tóm tắt Quy hoạch kèm theo).
Điều 2
Giao Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên hoàn chỉnh hồ sơ trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt Quy hoạch phát triển Điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, có xét đến năm 2020; triển khai tổ chức thực hiện theo đúng quy hoạch được phê duyệt.
Điều 3
Giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và các vị đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XI, kỳ họp thứ 14 thông qua ngày 15 tháng 7 năm 2010./.
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn Vượng
TÓM TẮT
Đề án quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2011-2015, có xét đến năm 2020
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số: 18/2010/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2010
của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên, khóa XI)
CƠ SỞ PHÁP LÝ CHỦ YẾU ĐỂ LẬP QUY HOẠCH
Luật Điện lực năm 2004;
Nghị định số: 105/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;
Quyết định số: 58/2007/QĐ-TTg ngày 04/5/2007 của Thủ Tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020.
Tổng sơ đồ phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2006-2015 có xét triển vọng đến 2025 (Tổng sơ đồ VI) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7/2006;
Nghị quyết số: 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng trung du và miền núi Bắc Bộ;
Văn bản số 1854/TTg-KTN ngày 08/10/2009 của Thủ Tướng Chính phủ về việc điều chỉnh bổ sung quy hoạch các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020;
Quyết định số: 42/2005/QĐ-BCN ngày 30/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành quy định nội dung, trình tự, thủ tục lập và thẩm định quy hoạch phát triển điện lực;
Quyết định số: 341/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 của UBND tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và các quy hoạch phát triển các ngành kinh tế của tỉnh có liên quan.
I. TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH
1.1. Tên đề án: Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015, có xét đến năm 2020.
1.2. Địa điểm thực hiện: Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3. Sự cần thiết lập quy hoạch
1.3.1. Khối lượng đầu tư
Khối lượng xây dựng đã thực hiện cơ bản đúng kế hoạch đề ra trong đề án quy hoạch giai đoạn 2006 - 2010.
Đường dây 220KV:
+ Xây dựng mới đường dây 220KV Tuyên Quang-Thái Nguyên; Đường dây 220 KV Hà Giang - Thái Nguyên.
+ Cải tạo đường dây 220KV Sóc Sơn-Thái Nguyên.
Đường dây 110kV:
+ Xây dựng mới đường dây mạch kép đi trạm XM Thái Nguyên; Đường dây 110KV cấp điện cho trạm 110KV Gang Thép (từ lộ 171&172-E6.2).
+ Cải tạo, nâng tiết diện lên AC400 đường dây mạch kép Thái Nguyên-Sóc Sơn.
(Lưới điện 220KV và 110KV đã tăng thêm 76km đường dây 220kV; 60 km đường dây 110kV).
Trạm biến áp 110KV:
+ Xây dựng mới trạm biến áp 110KV Phú Lương; trạm biến áp 110kV Sông Công; Trạm 110kv Xi măng Thái Nguyên; Trạm Gang Thép (quy mô công suất thay đổi thành 2x63MVA; dự kiến trong đề án quy hoạch là 2x50MVA). Nâng công suất trạm Đán lên (40+25) MVA;
+ Bổ sung mới thêm trạm 110kV Xi măng Quán Triều (1x20MVA) (Đang lập dự án đầu tư).
+ Trạm 110KV Đại Từ do Dự án Núi Pháo đang chuẩn bị triển khai nên vào chậm so với đề án quy hoạch giai đoạn 2006-2010.
Lưới trung thế 35, 22 KV:
+ Xây dựng được thêm 311,8 km.
+ Lưới điện 10KV và 6KV đang cải tạo và chuyển đổi thành lưới điện 22KV (hoàn thành vào cuối năm 2010).
(Trung bình mỗi năm lưới điện của tỉnh Thái Nguyên tăng thêm 129,2km đường dây trung thế)
Trạm biến áp tiêu thụ: Tổng số trạm biến áp tiêu thụ tăng thêm 288 trạm/ 71.303KVA.
Lưới điện hạ thế: Khối lượng đường dây hạ thế tăng khoảng 2.767 km.
1.3.2. Về phụ tải điện
Điện thương phẩm: Năm 2009 đạt 1.119,6 triệu kWh, Pmax đạt 215MW, trong đó điện công nghiệp - xây dựng chiếm 70%; Năm 2010, dự ước đạt 1.299 triệu KWh, Pmax 245 MW, trong đó điện công nghiệp - xây dựng chiếm 80%; . Tăng trưởng bình quân điện thương phẩm giai đoạn 2006-2010 ước đạt 9,9%, thấp hơn so với trong quy hoạch (dự báo tăng trưởng điện thương phẩm 13,3%/năm).
Nhu cầu điện đến năm 2010 thấp hơn mức dự báo trong quy hoạch giai đoạn 2006-2010 khoảng 200 triệu KWh, do một số nguyên nhân sau:
+ Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, sự sụt giảm của sản xuất công nghiệp và xây dựng làm giảm sản lượng điện tiêu thụ. Đặc biệt là Công ty Gang thép Thái Nguyên (chiếm trên 30% sản lượng điện tiêu thụ toàn tỉnh) do tiêu thụ thép gặp nhiều khó khăn nên sản xuất cầm chừng. Tuy nhiên do gặp nhiều khó khăn trong sản xuất thép nên kế hoạch mở rộng của Công ty chậm hơn so với dự kiến, chuyển sang giai đoạn 2009-2011.
+ Khai thác khoáng sản Núi Pháo hiện nay cũng bị chậm lại do chưa có nhà đầu tư.
+ Các thành phần tiêu thụ điện khác: Quản lý tiêu dùng dân cư, thương mại-dịch vụ, khác & nông nghiệp tăng trưởng theo đúng như đã dự báo trong đề án quy hoạch.
Hiện tại, điện thương phẩm bình quân trên đầu người của tỉnh Thái Nguyên đạt 1110kWh/người/năm, gấp khoảng 1,1 lần so với bình quân chung toàn quốc.
1.3.3. Hiện trạng nguồn, lưới điện
a) Về nguồn điện:
Hiện tại, tỉnh Thái Nguyên được cấp từ hai nguồn: Nguồn điện mua từ Trung Quốc và nguồn điện Việt Nam. Cũng do tình hình thiếu điện chung của cả nước, tỉnh Thái Nguyên là nơi điều chỉnh tải giữa 2 nguồn điện mua từ Trung Quốc và nguồn điện Việt Nam.
Nguồn điện Việt Nam cấp cho tỉnh Thái Nguyên từ các nguồn:
+ Thủy điện Thác Bà (công suất 3 x 36MW) qua đường dây 110KV Thác Bà - Tuyên Quang - Thái Nguyên;
+ Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn (công suất 2 x 57,5MW);
+ Nhà máy Thủy điện Hồ Núi Cốc (công suất 3 x 630KW), vận hành năm 2008; Trạm 220KV Sóc Sơn qua đường dây 110KV Sóc Sơn - Gò Đầm.
Nguồn điện mua Trung Quốc: công suất mua tối đa 200MW, trong vòng 10 năm (đến 2017) truyền tải qua các đường dây 220kV: sử dụng một mạch đường dây mạch kép dài 205 km, dây dẫn AC400 và AC2 x 330 Hà Giang - Tuyên Quang - Thái Nguyên và sử dụng một mạch đường dây mạch kép Tuyên Quang - Bắc Kạn - Thái Nguyên dài 130km dây phân pha AC 2x330mm2. Các đường dây này đấu nối về trạm biến áp 220kV Thái Nguyên. Hiện tại phần lớn phụ tải của tỉnh Thái Nguyên được cấp điện từ nguồn điện mua từ Trung Quốc, phần phụ tải Thái Nguyên còn lại được cấp điện từ nguồn điện Việt Nam. Điện năng mua từ Trung Quốc được cấp cho hầu hết các trạm 110kV Thái Nguyên (trừ trạm 110kV Gia Sàng) và cấp ngược lên phía bắc cho trạm Phú Lương và tỉnh Bắc Kạn.
Trạm 220KV: Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 1 trạm biến áp 220/110/22kV Thái Nguyên gồm 2 máy biến áp 2 x 250MVA. Hiện tại phần điện của trạm bị tách làm 2 phía: phía hòa vào hệ thống điện Việt Nam và phía nhận điện mua của Trung Quốc; 01 MBA mua điện từ Trung Quốc và 01 MBA hòa lưới điện Việt Nam. Các nhà máy điện: Thủy điện Thác Bà, Nhiệt điện Cao Ngạn đấu vào thanh cái 110kV của MBA thuộc phía Việt Nam. Trạm 220kV Thái Nguyên còn có 2 MBA 110/35/22kV - 2 x 63MVA.
b) Về lưới điện
Lưới điện 220KV:
Tỉnh Thái Nguyên liên kết với hệ thống điện quốc gia qua 4 hướng tuyến/7 đường dây 220KV, xuất tuyến từ trạm 220KV Thái Nguyên:
+ Thái Nguyên - Sóc Sơn, dây phân pha AC 2 x 330;
+ Thái Nguyên - Bắc Giang, dây mạch đơn AC 400;
+ Thái Nguyên - Sóc Sơn - Tuyên Quang, dây phân pha AC 2 x 330;
+ Thái Nguyên - Bắc Kạn - Tuyên Quang, mạch kép, dây phân pha AC 2x330. Tổng chiều dài là 155Km.
Các đường dây 220KV truyền tải công suất mua điện từ Trung Quốc và của các nhà máy thủy điện về lưới điện Việt Nam.
Lưới điện 110KV: Tổng chiều dài là 210Km.
Từ thanh cái 110KV của trạm 220 Thái Nguyên có 6 xuất tuyến 110KV gồm:
+ Lộ 171 và 172: Thái Nguyên - Sóc Sơn, dây dẫn AC 400, chiều dài tuyến 39,2Km. Hai lộ này cấp điện cho trạm 110KV Đán (E6.4); trạm 110 Gia Sàng (E6.1); trạm 110 Lưu Xá (E6.5); trạm 110KV Gò Đầm (E6.3) và trạm 110KV (E6.7).
+ Lộ 173: Thái Nguyên - Tuyên Quang, mạch đơn, dây dẫn AC 185, chiều dài tuyến 90Km;
+ Lộ 174: Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, dây dẫn AC 185, chiều dài tuyến 166,6Km; từ nguồn điện mua của Trung Quốc cấp cho trạm 110KV Phú Lương và trạm 110KV Bắc Kạn (tỉnh Bắc Kạn);
+ Lộ 177 và 178: Thái Nguyên - Quang Sơn, mạch kép, dây dẫn AC 185, chiều dài tuyến 17Km; từ nguồn điện mua của Trung Quốc cấp cho trạm 110KV xi măng Thái Nguyên (Quang Sơn);
Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn được cấp điện từ trạm 220 Sóc Sơn qua đường dây 110KV Sóc Sơn - Gò Đầm, dây dẫn AC 185, chiều dài tuyến 24,7 Km.
Trạm 110KV: Thái Nguyên hiện có 08 trạm 110KV tổng công suất 448,5 MVA, gồm
+ Trạm 110KV Đán (E6.4), quy mô công suất (40+25) MVA110/22KV; nhận điện từ trạm 220KV Thái Nguyên qua 2 đường dây 110KV - lộ 171 và 172 (chủ yếu từ lộ 171). Trạm 110KV Đán là nguồn chính cấp điện cho khu vực phía Bắc thành phố Thái Nguyên, thông qua các đường dây 22 kV. Pmax trạm hiện tại là 31,5 MW.
+ Trạm 110KV Lưu Xá (E6.5), quy mô công suất (1 x 40MVA -110/35/22KV; nhận điện từ trạm 220KV qua 2 đường dây 110KV - lộ 171 và 172. Hiện tại trạm chủ yếu cấp điện cho sản xuất của Công ty Gang thép Thái Nguyên; ngoài ra còn cấp điện cho một số phụ tải thuộc phía Nam thành phố Thái Nguyên và khu Công nghiệp Sông Công qua các đường dây 35, 22kV. Hiện tại trạm đã đầy tải.
+ Trạm 110 Gò Đầm (E6.3), quy mô công suất 1 x 25MVA - 110/22/6KV và 1 x 63MVA - 110/35/22KV và 10,5MVA - 35/6KV; nhận điện từ 2 nguồn: từ trạm 220KV Thái Nguyên qua tuyến dây 110KV-lộ 171 và từ trạm 220KV Sóc Sơn qua tuyến dây 110 KV - lộ 172. Hiện tại trạm là nguồn chính cấp cho thị xã Sông Công, KCN Sông Công, một phần huyện Phổ Yên và Phú Bình qua các đường dây 35, 22, 6KV; Pmax hiện tại của trạm là 52 MW.
+ Trạm 110KV Gia Sàng (E6.1), quy mô công suất (50+20)MVA-110/35/6KV; nhận điện từ 2 đường dây 110KV, lộ 171 và 172 (chủ yếu cấp từ lộ 172). Máy biến áp 50MVA cấp điện cho Công ty Gang thép Thái Nguyên qua lộ 304; Máy 20MVA cấp điện cho Công ty CP thép Gia Sàng. Pmax cuả trạm hiện tại là 52 MW
+ Trạm 110KV Phú Lương (E6.6), quy mô công suất 1 x 25MVA-110/35/22KV; nhận điện từ đường dây 110KV Thái Nguyên - Bắc Kạn (lộ 174); cấp điện cho các huyện Phú Lương, Định Hóa. Pmax của trạm hiện tại là 16 MW.
+ Trạm 110 KV Sông Công (E6.7), quy mô công suất 1 x 40MVA -110/35/22KV; nhận điện từ 2 đường dây 110KV, lộ 171 và 172; cấp điện cho huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình. Pmax cuả trạm hiện tại là 17 MW.
+ Trạm 110KV XM Thái Nguyên (E6.8), quy mô công suất 2 x 25MVA - 110/35/6KV; nhận điện từ 2 đường dây 110KV lộ 177 và 178; chủ yếu cấp điện cho nhà máy xi măng Thái Nguyên, xi măng La Hiên và một số phụ tải các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai.
+ Trạm 110 Gang Thép (E6.9), quy mô 2 x 63MVA - 110/35/6KV.
Trong số 8 trạm 110KV có 6 trạm được cấp nguồn từ đường dây 171 và 172 mua điện Trung Quốc và một đường cấp điện nguồn Việt Nam, (trong đó lộ 171 cấp điện mua từ Trung Quốc). Hiện tại chỉ có trạm 110KV Gia Sàng nhận điện Việt Nam; các trạm 110 KV còn lại đều nhận điện Trung Quốc.
Lưới trung áp:
Lưới trung áp gồm 4 cấp điện áp 35, 22, 10, 6 KV tổng chiều dài gần 1.879km.
+ Lưới 35KV chiếm tỷ trọng lớn nhất (48,8% lưới điện trung áp); Lưới 35KV vừa là lưới truyền tải cấp điện cho các trạm trung gian, vừa là lưới phân phối cấp trực tiếp cho các trạm biến áp tiêu thụ, các trạm chuyên dùng.
+ Lưới 22KV chiếm tỷ lệ 28,8%, chủ yếu phát triển ở khu vực thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Định Hóa.
+ Lưới 10, 6KV sau các trạm trung gian 35KV, kết cấu hình tia, thiếu khả năng hỗ trợ nguồn. Ngành điện đang nỗ lực cải tạo, loại bỏ lưới 10, 6KV.
Trạm biến áp trung gian 35/10 và 35/6KV: Toàn tỉnh hiện có 16 trạm/30 máy với tổng dung lượng 132.400KVA, với các máy biến áp có dung lượng 1000, 1.800, 2.500, 3.200, 5.600 và 7.500 KVA.
+ Trạm biến áp phân phối 35, 22, 10 và 6 KV: Tỉnh Thái Nguyên hiện có 1.346 trạm, 1.377 máy biến áp với tổng dung lượng 446.776 KVA; công suất trung bình 330KVA/trạm.
(Trong tổng số trạm phân phối, số trạm đã có cấp điện áp 22KV chiếm 52,7% về dung lượng, cấp điện áp 35KV chiếm 30,3%, cấp điện áp 10; 6KV là 16,9%)
c) Khả năng liên kết lưới điện tỉnh Thái Nguyên với lưới điện khu vực trong hệ thống điện quốc gia:
Tỉnh Thái Nguyên hiện được liên kết với hệ thống điện quốc gia qua 4 tuyến/7 đường dây 220KV: trong đó 3 tuyến tải điện từ nguồn điện Việt Nam (Sóc Sơn - Thái Nguyên, Tuyên Quang - Thái Nguyên và Thái Nguyên - Bắc Giang) và 2 mạch tải điện Trung Quốc: Hà Giang - Tuyên Quang - Thái Nguyên và Tuyên Quang - Bắc Cạn - Thái Nguyên. Trong trường hợp một trong các đường dây này bị sự cố, trạm 220KV Thái Nguyên sẽ được cấp điện từ đường dây kia nên độ an toàn cung cấp điện cao.
Lưới cao thế 110 KV: Đồng bộ với việc mua điện Trung Quốc, 2 tuyến đường dây 110kV Sóc Sơn - Thái Nguyên cấp điện cho phần lớn các trạm 110kV của Thái Nguyên cũng được cải tạo thành đường dây mạch kép, tiết diện AC400 (lộ 171 và 172). Tuy nhiên do tình trạng thiếu nguồn chung của cả nước nên Thái Nguyên là nơi điều chỉnh tải nhận nguồn điện từ Trung Quốc. Hiện tại toàn bộ các trạm biến áp 110kV đấu vào 2 đường dây 110KV-171 và 172 (trừ trạm 110kV Gia Sàng) đều được cấp từ điện Trung Quốc, dẫn đến tình trạng quá tải càng nặng nề. Vì vậy, cần tính toán các phương án kết cấu lưới hợp lý, giảm tải cho các đường dây 110KV - lộ 171 và 172.
+ Từ thanh cái 110kV của trạm 220kV Thái Nguyên còn có 2 xuất tuyến 110 khu vực cấp điện cho các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng và nhận điện từ Tuyên Quang. Do vậy lưới 110 kV của tỉnh Thái Nguyên có liên kết mạnh với các tỉnh khác và hỗ trợ cấp điện cho nhau ở chế độ vận hành bình thường cũng như khi sự cố và làm tăng độ tin cậy của lưới 110kV khu vực. Tuy nhiên, đường dây 110kV Tuyên Quang - Thái Nguyên tải điện từ Thác Bà về hiện bị quá tải, cần sớm cải tạo nâng tiết diện dây.
1.3.4. Nhận xét chung
Giai đoạn 2006-2010, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xây dựng được thêm 2 trạm 110kV, và năm 2010 dự kiến thêm 03 trạm 110KV; các tuyến đường dây 110kV hầu hết xây dựng theo đúng quy hoạch.
+ Một số trạm 110kV do mức độ tăng trưởng phụ tải chậm lại nên tiến độ vào chậm hơn so với dự kiến (trạm 110KV Đại Từ).
+ Điện năng thương phẩm tăng chậm hơn tốc độ dự báo do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, một số phụ tải lớn đã được dự kiến không vào đúng tiến độ.
1.3.5. Sự cần thiết lập quy hoạch
Trong những năm qua tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những bước phát triển đáng kể trên nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng; làm thay đổi cơ bản đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo ra động lực phát triển cho toàn tỉnh. Kinh tế liên tục phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Vị trí địa lý thuận lợi tạo điều kiện cho Thái Nguyên phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp luyện kim, khai thác khoáng sản, cơ khí và sản xuất vật liệu xây dựng, tạo tiền đề cho các ngành khác phát triển.
Việc lập Đề án "Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015, có xét đến năm 2020" có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội cũng như về mặt an ninh chính trị. Đề án đã dự báo nhu cầu cung cấp điện thương phẩm đến 2020 trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của phương án tăng trưởng cao về kinh tế. Đề án đã đưa ra sơ đồ hiện trạng cũng như sự phát triển của các nguồn điện hiện có và dự kiến trong giai đoạn quy hoạch (bao gồm cả các nguồn điện cấp chung cho các tỉnh lân cận). Làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển lưới điện của tỉnh.
Để đáp ứng được sự phát triển phụ tải của tỉnh trong tương lai khi một số cơ sở công nghiệp lớn như Công ty gang thép Thái Nguyên mở rộng giai đoạn II; Khu Công nghiệp Sông Công mở rộng giai đoạn II; Khai thác Vonfram và đa kim Núi Pháo; Khu công nghiệp chế xuất, đô thị và dịch vụ Yên Bình; Khu Công nghiệp Tây Phổ Yên; Khu Công nghiệp Nam Phổ Yên; Khu Công nghiệp Điềm Thụy…đi vào hoạt động thì việc tăng cường các nguồn 220KV, 110KV mới và phát triển lưới điện cao thế, trung thế theo quy hoạch đề ra là đòi hỏi cấn thiết.
1.4. Quan điểm phát triển điện lực
Phát triển điện phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của tỉnh trong điều kiện hội phập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân; Đẩy mạnh điện khí hóa nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Bảo đảm chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện với chất lượng ngày càng cao. Đặc biệt coi trọng tiết kiệm điện năng từ khâu truyền tải, phân phối và sử dụng.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các dạng năng lượng mới và tái tạo; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; tăng nguồn phát điện để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt đối với vùng sâu vùng xa.
Ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào phát triển lưới điện giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Tiến hành tính toán, dự báo nhu cầu điện trong từng giai đoạn, thiết kế sơ đồ cải tạo và phát triển nguồn và lưới điện của tỉnh đến giai đoạn quy hoạch, đưa ra các giải pháp phát triển ngắn hạn và dài hạn bao gồm:
+ Các trung tâm cấp nguồn gồm các trạm 220-110KV tại các khu vực trong tỉnh phù hợp với từng vùng phụ tải;
+ Hệ thống lưới điện trung thế tại các khu vực bao gồm xây dựng mới và cải tạo để giảm tổn thất điện năng, nâng cao độ tin cậy và chất lượng cung cấp điện;
+ Đưa ra khối lượng xây dựng mới và cải tạo lưới điện, vốn đầu tư xây dựng trong từng giai đoạn;
+ Phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án, đưa ra kiến nghị và giải pháp thực hiện.
1.5.
Mục tiêu phát triển điện lực
Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020
Mục tiêu: Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động để nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiền đề quan trọng để tỉnh Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Phát triển nông nghiệp, nông thôn mới toàn diện, hiện đại và bền vững. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là với đồng bào thiểu số, miền núi, vùng sâu, xa.
Mục tiêu phát triển điện lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 có xét đến năm 2020