QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Về việc phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992; Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 26 tháng 6 năm 1994; Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ năm 1998; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Văn bản số 93/CSLĐ ngày 17 tháng 11 năm 1997, văn bản số 1653/BLĐTBXH-CSLĐ ngày 23 tháng 5 năm 1998 và ý kiến thẩm định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 2994 BKH/VPTĐ ngày 07 tháng 5 năm 1998,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 (kèm theo Quyết định này) với những nội dung chủ yếu sau đây:
Chương trình:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
Chương trình: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Mục tiêu của
Chương trình:
Mục tiêu cơ bản lâu dài:
Mục tiêu cụ thể:
Chương trình:
Chương trình trên phạm vi cả nước và các dịch vụ việc làm cho người sử dụng lao động khi có yêu cầu.
Chương trình và các cán bộ quản lý
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm,
Chương trình giải quyết việc làm của địa phương.
Chương trình.
Chương trình, tổ chức các hoạt động thông tin thị trường lao động, tuyên truyền, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
Chương trình.
Chương trình:
Chương trình:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm thực hiện theo Quyết định số 05/1998/QĐ-TTg ngày 14 tháng 1 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý các
Chương trình mục tiêu quốc gia.
Điều 2
Giao cho các cơ quan sau đây có nhiệm vụ quản lý và thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm:
Chương trình; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chủ nhiệm
Chương trình; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể liên quan tổ chức triển khai thực hiện
Chương trình, hàng năm tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Chương trình trên cơ sở thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy chế kế hoạch hoá hiện hành.
Chương trình theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tại địa phương; báo cáo định kỳ với Thủ tướng Chính phủ (thông qua Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) về tình hình thực hiện
Chương trình theo quy định.
Điều 3
Đề nghị các đoàn thể quần chúng tham gia thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trong phạm vi hoạt động của đoàn thể mình, đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm của các cấp chính quyền liên quan.
Điều 4
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 5
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU
Điều 15 và
Điều 180 của Bộ Luật Lao động,
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 nhằm bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm, tiến tới có việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do lựa chọn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
PHẦN MỘT
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm khi được tổ chức lại và hoạt động theo quy định của Bộ Luật Lao động.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm theo Bộ luật lao động.
PHẦN HAI
MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
MỤC TIÊU:
Mục tiêu cơ bản lâu dài:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 nhằm tạo mở việc làm mới và bảo đảm việc làm cho người lao động có khả năng lao động, có yêu cầu việc làm. Thực hiện các biện pháp để trợ giúp người thất nghiệp nhanh chóng có được việc làm, người thiếu việc làm hoặc việc làm hiệu quả thấp sẽ có được việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả cao hơn. Tiến tới mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do lựa chọn; thông qua đó giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
Mục tiêu cụ thể:
Chương trình sẽ tổ chức dạy nghề gắn với việc làm cho 1 triệu người; cho vay vốn để giải quyết việc làm cho 925.000 người. Tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hệ thống các cơ sở vệ tinh của trung tâm tại các thị xã, thị trấn, thị tứ, khu công nghiệp tập trung... để cung cấp các dịch vụ về việc làm cho những người thất nghiệp, người thiếu việc làm đã đăng ký tìm việc làm và người sử dụng lao động, góp phần bảo đảm nhân lực thực hiện Kế hoạch Nhà nước và các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ 1996-2000 do Đại hội Đảng VIII đề ra.
Mục tiêu giải quyết việc làm phải được cụ thể hoá thành chỉ tiêu tạo chỗ làm việc mới trong kế hoạch Nhà nước hằng năm và 5 năm, trong các chương trình, dự án của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và đơn vị cơ sở. Trong đó, phải khai thác mọi tiềm năng để bảo đảm những điều kiện tương xứng nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 được triển khai trên ba hướng cơ bản sau đây:
PHẦN BA
CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000, gồm hai nhánh hoạt động chủ yếu:
Chương trình và các cơ sở vệ tinh của trung tâm tại các thị xã, thị trấn, thị tứ, khu công nghiệp tập trung trong phạm vi cả nước; trên cơ sở quy hoạch và tổ chức lại các Trung tâm xúc tiến việc làm hiện có, để đảm bảo thực hiện nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm của
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
Chương trình hoặc các cơ sở dạy nghề khác do Trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu.
Chương trình.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm,
Chương trình giải quyết việc làm của địa phương.
Chương trình và cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật để có đủ năng lực đảm bảo thực hiện các hoạt động dạy nghề của
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tới năm 2000.
Chương trình vay vốn để tự tạo việc làm mới hoặc tự tạo thêm việc làm có hiệu quả hơn, gắn với chuyển giao công nghệ, hướng dẫn cách làm ăn cho nông dân và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống.
Chương trình giới thiệu, gắn với phát triển doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp chế biến hàng nông sản, hàng xuất khẩu và việc áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm;
Chương trình; các mô hình, các sáng kiến giải quyết việc làm ở địa phương, đơn vị cơ sở thường kỳ và đột xuất trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Chương trình.
Chương trình.
PHẦN BỐN
CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000, gồm: Vốn đầu tư phát triển để thực hiện Kế hoạch kinh tế - xã hội, các
Chương trình phát triển, các
Chương trình quốc gia nhằm tạo mở 5 triệu chỗ làm việc mới và bảo đảm việc làm cho người lao động và Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm để thực hiện các hoạt động xác định của
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 theo mục tiêu đã xác định, trình Chính phủ và Quốc hội quyết định.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trực tiếp quản lý và điều hành. Quỹ được sử dụng để hỗ trợ các địa phương, ngành thực hiện các hoạt động giải quyết việc làm cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm theo nguyên tắc, điều kiện sau:
Điều 15 của Bộ Luật lao động;
Các hoạt động và nội dung sử dụng tài chính phải phù hợp với các hoạt động của
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và nội dung sử dụng Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm;
Chương trình:
Chương trình:
PHẦN NĂM
CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU
CHƯƠNG TRÌNH:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm có một tổ chuyên viên liên ngành kiêm nhiệm giúp việc. Số lượng và tiêu chuẩn của các thành viên tổ chuyên viên liên ngành do Chủ nhiệm
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm quyết định.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm do Ban Quản lý
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm bảo đảm và được lấy từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm.
Chương trình giải quyết việc làm của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thực hiện các hoạt động của
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tại địa phương.
CHƯƠNG TRÌNH:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tại địa phương.
CHƯƠNG TRÌNH:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, gồm:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm quyết định.
CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ VIỆC LÀM:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tổ chức và duy trì chế độ kiểm tra, chế độ báo cáo giữa các đơn vị trong hệ thống tổ chức trực tiếp điều hành, thực hiện chương trình và thực hiện chế độ báo cáo với Ban Chủ nhiệm
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và báo cáo với các cơ quan quản lý chương trình và Chính phủ về kết quả thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm./.