THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn giải quyết các dự án vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm (quỹ Quốc gia giải quyết việc làm) bị rủi ro Thực hiện Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong các năm tới; Thi hành Quyết định số 126/1998/ QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2000; Để tăng cường công tác quản lý cho vay, thu hồi và giải quyết các khoản rủi ro trong tổ chức vay Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm,
sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn 4513/VPCP-VX ngày 06/11/1998, Liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội-Tài chính-Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện như sau: I - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG : 1- Các dự án vay vốn từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm và các dự án vay từ nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Tiệp khắc (cũ) nếu bị rủi ro do các nguyên nhân khách quan, mất một phần hoặc toàn bộ vốn, người vay vốn hay chủ dự án (sau đây gọi chung là người vay vốn) có khó khăn về tài chính hoặc bị chết, bị mất tích, người thừa kế thực sự không có khả năng trả nợ, có thể được xem xét cho giảm, miễn một phần lãi, khoanh nợ hoặc xoá nợ. 2-Các dự án được xem xét giảm, miễn lãi, khoanh nợ hoặc xoá nợ phải có đầy đủ hồ sơ pháp lý, các căn cứ chứng minh những thiệt hại rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến khó khăn, không còn khả năng trả nợ. 3- Thẩm quyền giải quyết dự án rủi ro: Uỷ quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là tỉnh), Bộ Trưởng các Bộ và Thủ trưởng cơ quan TW Tổ chức đoàn thể, Hội quần chúng quyết định phê duyệt giảm, miễn lãi, khoanh nợ. Đối với các dự án phải xoá nợ do Liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội-Tài chính-Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, thẩm định và đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 4- Nguồn vốn để giải quyết các dự án bị rủi ro lấy từ quỹ dự phòng rủi ro được hình thành từ một phần lãi suất theo quy định tại khoản c,
Điều 1, Quyết định số 950 TC/HCSN, ngày 17/10/1996 của Bộ Tài chính.
II - NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
1- Đối tượng và phạm vi áp dụng:
Các dự án sử dụng vốn vay đúng mục đích đã được duyệt, bị thiệt hại do các nguyên nhân khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của người vay vốn ( gọi là nguyên nhân bất khả kháng ) bao gồm: bão, lũ lụt, hoả hoạn, hạn hán, động đất, dịch bệnh xảy ra trong phạm vi 1 xã, phường, thị trấn ( sau đây gọi chung là xã ) trở lên.
Người vay vốn bị chết, bị mất tích, không có người thừa kế hoặc người thừa kế thực sự không có khả năng trả nợ thay cho người vay vốn.
2- Các trường hợp được xem xét giảm, miễn lãi, khoanh nợ hoặc xoá nợ:
a. Giảm hoặc miễn lãi: Các dự án bị thiệt hại một phần do các nguyên nhân bất khả kháng được xét giảm một phần lãi hoặc miễn toàn bộ lãi tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại.
Phần vốn gốc và phần lãi không được miễn, giảm thì chủ dự án có trách nhiệm hoàn trả cho Nhà nước đúng thời hạn.
Mục II Thông tư này thì người vay vốn (hay người thừa kế) làm đơn nêu rõ nguyên nhân, số vốn thiệt hại và các đề nghị gửi UBND xã. Sau khi nhận đơn, UBND xã tổ chức xem xét, giải quyết :
Mục II Thông tư này.
Mục II Thông tư này gửi về Liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội-Tài chính-Kế hoạch và Đầu tư để kiểm tra, nếu đủ các điều kiện quy định tại
Mục II Thông tư này, tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
Mục II Thông tư này, bổ sung đầy đủ hồ sơ theo đúng hướng dẫn của Thông tư này và chịu trách nhiệm về tính xác thực của hồ sơ, gửi về Liên Bộ xem xét giải quyết.
Mục II Thông tư này thì không được giải quyết giảm, miễn lãi, khoanh nợ, xoá nợ. Kho bạc Nhà nước tỉnh chủ trì cùng với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, phối hợp với cơ quan công an, cơ quan pháp luật để tổ chức thu hồi nợ, những trường hợp cố tình không trả Quỹ vay theo quy định thì đề nghị xử lý theo pháp luật .