QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH V /v ban hành Quy định về chữa trị, giáo dục cho người nghiện ma tuý ở cơ sở Giáo dục-Lao động trên địa bàn tỉnh S ơ n la. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/6/1994
Căn cứ Luật phòng chống ma tuý ngày 09/12/2000;
Căn cứ Nghị định 20/CP ngày 13/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7 /1995;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 31/TTLT-LĐTBXH-YT ngày 20/12/1999 của Bộ Lao động-TBXH và Bộ Y tế hướng dẫn Qui trình cai nghiện phục hồi sức khoẻ, nhân cách cho người nghiện ma tuý;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 05/ 2002/TTLT-BLĐTBXH-BTCCBCP, ngày 06/02/2002 của Bộ Lao động-TBXH và Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ ) hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự cơ sở chữa bệnh ở địa phương;
Căn cứ Chỉ thị số 21/ CT-T U ngày 26/ 9/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Sơn la về tiếp tục tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống ma túy;
Căn cứ Nghị quyết số 67/2003/NQ-HĐND ngày 11/ 01/ 2003 của HĐND tỉnh khoá XI-kỳ họp thứ 7 về Quy định chữa trị, giáo dục cho người nghiện ma tuý ở cơ sở giáo dục-lao động trên địa bàn tỉnh Sơn la.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về chữa trị, giáo dục cho nguòi nghiện ma tuý ở cơ sở Giáo dục-Lao động trên địa bàn tỉnh Sơn la. Gồm 8 Chương-31 điều.
Điều 2
Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Y tế, Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh và các Ban, Ngành liên quan hướng dẫn thực hiện Quyết định này.
Điều 3
Các ông (bà) Chánh Văn phòng HĐND-UBND Tỉnh, Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Công an tỉnh, Ban Tổ chức
Chính quyền tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, Thị xã và các Sở, Ban, Ngành liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các quy định trước đây của Uỷ ban nhân dân tỉnh trái với Quyết định này đều không còn hiệu lực thi hành./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
CHỦ TỊCH
( Đã ký)
Hà Hùng
QUY ĐỊNH
Về chữa trị, giáo dục cho ngư ờ i nghiện ma tuý ở Cơ s ở Giáo dục-Lao động trên địa bàn tỉnh Sơn la
(Ban hành kèm theo Quyết định số 63 / 2003 / QĐ-UB ngày 09 tháng 4 năm 2003 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn la)
CHƯƠNG I
Điều 1
Việc giáo dục, chữa trị cho người nghiện ma tuý là vấn để quan tâm của mọi gia đình và toàn xã hội. Đây là việc làm nhân đạo để giúp người nghiện ma tuý từ bỏ ma tuý; rèn luyện, phục hồi sức khoẻ và nhân cách, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh.
Điều 2
Người được đưa vào cai nghiện ma tuý ị được quy định tại điều 2 Luật phòng chống ma tuý ) tại các cơ sở Giáo dục-Lao động trên địa bàn tỉnh là những người đang sử dụng trái phép và nghiên chất ma tuý (được gọi là người nghiện ma tuý).
Điều 3
Công tác tổ chức giáo dục, chữa trị cho người nghiện ma tuý phải được tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, thống nhất, đồng bộ, đồng loạt; Gắn liền với công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm liên quan đến ma tuý; Không để phát sinh người nghiện ma tuý mới, hạ thấp tỉ lệ tái nghiện, giảm số người nghiện trên địa bàn toàn tỉnh.
Điều 4
Cơ sở Giáo dục-Lao động ở các huyện, thị xã trong Quy định này là nơi tập trung cai nghiện, chữa trị đối với những người nghiện ma tuý bằng các biện pháp y tế, giáo dục, lao động, học tập, rèn luyện thân thể và phẩm chất đạo đức (được quy định tại khoản b mục 1,
Điều 26 Luật phòng chống ma tuý và Thông tư số 31/1999/TTLT/BLĐTBXH-BYT ngày 20/12/1999 của Bộ Lao động-TB&XH và Bộ Y tế).
CHƯƠNG II
Điều 5
Mỗi huyện, thị xã thành lập một đến hai cơ sở Giáo dục-Lao động. cơ sở Giáo dục-Lao động chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện, thị xã. cơ sở có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch trons quá trình hoạt động.
Điều 6
Chức năng nhiệm vụ của các cơ sở Giáo dục-Lao động:
Tiếp nhận, quản lý và tổ chức cai nghiện cho các đối tượng nghiện ma tuý bằng các hình thức: Tổ chức cho người cai nghiện lao động sản xuất, tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, thể thao nhằm giúp cho người nghiện từ bỏ ma tuý, phục hồi sức khoẻ và nhân cách, không tái nghiện.
Xây dựng, tổ chức thực hiện nội quy, quy chế hoạt động và kế hoạch công tác hàng tháng, hàng năm; Báo cáo định kỳ về công tác cai nghiện ma tuý và chịu trách nhiệm về các hoạt động của cơ sở theo quy định của pháp luật.
Tổ chức tư vấn, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp dạý nghề cho người nghiện.
Có kế hoạch tổ chức lao động sản xuất, liên doanh liên kết để tự cân đối thu, chi nhằm đảm bảo đời sống cho người nghiện trong thời gian chữa trị, giáo dục, lao động tại cơ sở.
Thực hiện công tác quản lý, bảo vệ theo quy chế của cơ sở, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại cơ sở.
Điều 7- Bộ máy tổ chức của cơ sở Giáo dục-Lao động huyện, thị xã có: Giám đốc, một Phó Giám đốc và các cán bộ, nhân viên ( kiêm nhiệm hoặc hợp đồng lao động ) gồm:
Cán bộ y tế và cán bộ ngành Lao động-TBXH.
Cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn sản xuất.
Cán bộ cơ quan Công an và Quân đội.
Số lượng, thành phần cán bộ, nhân viên cơ sở Giáo dục-Lao động: Việc bổ nhiệm, điều động cán bộ của cơ sở Giáo dục-Lao động do Chủ tịch UBND huyện, thị xã quyết định ( được quy định tại Thông tư Liên tịch số 05/TTLT/BLĐTBXH-BTCCBCP ngày 06/02/ 2002 của Bộ Lao động-TBXH và Ban TCCBCP nay là Bộ Nội vụ ). Số biên chế này nằm trong tổng số biên chế của huyện, thị xã được UBND tỉnh giao.
Điều 8
Kinh phí hoạt động của cơ sở Giáo dục-Lao động huyện, thị xã gồm:
Đóng góp của gia đình, bản thân người nghiện.
Các khoản thu từ kết quả lao động của người nghiện ma tuý tại cơ sở.
Sự ủng hộ của các cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước.
Hỗ trợ một phần của ngân sách Nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất ban đầu.
Điều 9
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo quy định. Trại Tạm giam của tỉnh cũng là một cơ sở cai nghiện để tổ chức cai nehiện ma tuý theo đúng quy định tại Quy định này và các văn bản quy định khác của pháp luât cho nhữns đối tượng nghiện ma tuý, vi phạm Pháp luật.
Điều 10
Tổ chức chỉ đạo công tác cai nghiện ma tuý: Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm ( Ban chỉ đạo 835 ) của các huyện, thị, xã, phường, thị trấn, các cơ quan đơn vị, trường học... có trách nhiệm tham mưu và giúp cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp chỉ đạo công tác cai nghiện ma tuý tại các cơ sở Giáo dục-Lao động huyện, thị xã.
CHƯƠNG III
Điều 11
Người nghiện ma tuý phải tuân thủ bắt buộc cai nghiện qua 5 bước theo quy định tại Thông tư liên tịch số 31/ TTLT/ BLĐTBXH-BYT ngày 20/ 12/ 1999 của Bộ Lao động-TBXH và Bộ Y tế.
Quá trình thực hiện quy trình cai nghiện ma tuý có ba giai đoạn chính sau:
1. Giai đoạn I: Thực hiện quy trình cai nghiện tại cộng đồng:
Sau khi tổ chức đánh giá, phân loại, tiến hành biện pháp y tế để cắt cơn nơhiện theo phác đồ do Bộ Y tế quy định, người nghiện ma tuý được tham gia luyện tập và lao động để nâng dần thể lực. Thời gian là 01 tháng tại xã, phường, thị trấn, cơ quan, trường học.
Giai đoạn này được chia làm 03 bước:
Bước 1: Đánh giá, phân loại đối mọng.
Bước 2: Từ 7-10 ngày chủ yếu là dùng biện pháp y tế theo phác đồ do Bộ Y tế quy định để cắt cơn nghiện cho người nghiện ma tuý.
Bước 3: Thời gian tiếp theo của giai đoạn I người nghiện ma tuý phải thực hiện nhũng quy định chuẩn bị chuyển sang thực hiện cai nghiện của giai đoạn II:
a) Luyện tập thể dục thể thao, vui chơi giải trí, kết hợp lao động từng bước từ nhẹ đến nặng.
b) Viết tường trình quá trình nghiện và sai phạm khi chưa đi cai nghiện; Cam đoan không tái nghiên; tố giác những người sử dụng, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển chất ma tuý.
Toàn bộ chi phí ăn uống, phục vụ cho người nghiện ma tuý ở giai đoạn này đều do người nghiện ma tuý và gia đình người nghiện ma tuý chịu trách nhiệm, neân sách Nhà nước hỗ trợ tiền thuốc điều trị cắt cơn nghiện.
2. Giai đoạn II: Người nghiện ma tuý phải lao động sản xuất, trị liệu để cai nghiện, chữa bệnh ( chủ yếu ở tại cơ sở Giáo dục-Lao động ) nhằm phục hồi sức khoẻ ở trạng thái ổn định bình thường và làm ra của cải vật chất để tự nuôi sống bản thân mình trong thời gian chữa trị tại cơ sở Giáo dục-Lao động. Thời gian là 24 tháng. Trường hợp đặc biệt, vi phạm nội quy, quy chế của cơ sở Giáo dục-Lao động, có thể kéo dài thời gian lao động tuỳ theo mức độ vi phạm ( nhưng không quá 03 tháng so với thời gian quy định).
a) Nhưng đối tượng sau được đưa vào giai đoạn II:
Người nghiên sau khi thực hiện xong giai đoạn chữa trị, cai nghiện tại xã, phường, thị trấn hoặc người cai nghiện tại nhà khi đã đủ điều kiện như cai nghiện ở xã, phường, thị trấn được chuyển sang cai nghiện giai đoạn II.
Người nghiện ma tuý bị bắt, tạm giam hoặc bị kết án phạt tù đã đi cải tạo được các trại tạm giam, trại giam trả tự do về địa phương nhưng phải có thời gian ở các trại dưới 12 tháng.
Người đang cai nghiện giai đoạn III nhưng vi phạm những điều đã cam kết, không chấp hành những quy chế cai nghiện của tỉnh và các quy định của địa phương.
Những trường hợp chưa đủ điều kiện xét chuyển đến cơ sở Giáo dục-Lao động thì phải tiếp tục rèn luyện cho đến khi đủ điều kiện mới được xét chuyển.
b) Trong thời gian ở cơ sở Giáo dục-Lao động, người nghiện ma tuý phải tiếp tục cai nghiện, chữa bệnh bằng lao động để phục-hồi sức khoẻ, tạo ra sản phẩm, tiền nuôi sống bản thân và chi cho các hoạt động khác phục vu cai nghiện tại cơ sở Giáo dục-Lao động.
Nếu người nghiện ma tuý có đủ các điều kiện sau thì được Giám đốc cơ sở Giáo dục-Lao động xét đề nghị đưa về thực hiện giai đoạn III:
Có đủ thời gian 24 tháng lao động, cai nghiện tại cơ sở Giáo dục-Lao động ( Không tính những ngày bị ốm hoặc bị phạt do vi phạm kỷ luật).
Sức khoẻ đã trở lại bình thường, lao động tích cực, có nâng suất lao động, chấp hành đầy đủ theo quy định, được tập thể những người cùng cai nghiện công nhận.
Có V thức tổ chức kỷ luật tốt. Trong thời gian cai nghiện ở cơ sở Giáo dục-Lao động không có vi phạm hoặc có vi phạm nhưng đã tích cực sửa chữa, được tập thể những người cùng cai nghiện, Giám đốc cơ sở Giáo dục-Lao động côns; nhận tiến bộ; các lần xét nghiệm đều không có biểu hiện sử dụng chất ma tuý.
Người nghiện đã làm đủ số tiền tự nuôi sống bản thân bằng công sức của mình trong thời gian chữa trị, giáo dục tại cơ sở Giáo dục-Lao động. Nếu chưa hoàn thành định mức lao động thì tiếp tục chấp hành lao động cho tới khi đủ (những trường hợp do bị tai nạn lao động hoặc vì lý do đặc biệt khác nếu không còn khả năng lao động thì gia đình người nghiện ma tuý được nộp số tiền mà người nghiện ma túy còn thiếu, nhưng phải được Ban chỉ đạo cấp huyện, thị đồng ý).
Người nghiện và gia đình người nghiên phải có đơn gửi Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã cam kết khi về thực hiện giai đoạn III, chấp hành nghiêm những quy định về quản lý cai nghiện, có công ăn việc làm ổn định, không để tái nghiện ( có xác nhận của Chính quyền cơ sở).
Khi có Quyết định cho người nghiện ma tuý về thực hiện cai nghiện giai đoan III. Ban chỉ đạo cấp huyện, thị và cơ sở Giáo dục-Lao động, tổ chức bàn giao người nghiện ma tuý cho Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn, Tiểu ban phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội và gia đình người nghiện để quản lý, giám sát, theo dõi giúp đỡ.
3. Giai đoạn III: Là giai đoạn người nghiện ma tuý phải tiếp tục lao động, cai nghiện ở xã, phường, thị trấn nơi cư trú với hình thức tự giác chịu sự quản lý, giám sát của Chính quyền địa phương. Thời gian từ 2 năm ( 24 tháng ) trở lên.
Trong quá trình cai nghiện ở giai đoạn này, người nghiện ma tuý được sinh hoạt, lao động sản xuất và học tập cùng với gia đình và cộng đồng nhưng phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy chế cai nghiện ma tuý của tỉnh và những điều đã cam kết trước khi về cai nghiện giai đoạn III.
a) Những đối tượng sau đây được đưa vào diện cai nghiện giai đoạn III:
Đã có Quyết định hoàn thành cai nghiện giai đoạn II của cơ sở Giáo dục-Lao động.
Người nghiện ma tuý được Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã cho cai nghiện tại nhà, đã đủ điều kiện chuyển cai nghiện giai đoạn III.
Người nghiện ma tuý bị bắt, đã đi cải tạo, có thời gian ở các Trại tạm giam, Trại giam trên 12 tháng, đề nghị cho về địa phương cai nghiện tiếp giai đoạn III.
b) Người cai nghiện giai đoạn III có trách nhiệm:
Tích cực lao động để đảm bảo cuộc sống.
Không quan hệ với người sử dụng, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển chất ma tuý; có trách nhiệm tố giác những đối tượng đó để góp phần làm trong sạch, lành mạnh xã hội.
Khi có việc cần đi khỏi địa phương từ 03 ngày trở lên phải viết đơn xin phép ( có xác nhận của Chính quyền nơi cư trú ) và phải được Ban chỉ đạo cấp xã đồng ý; sau đó phải báo cáo với Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn về những công việc đã làm trong những ngày vắng mặt ở địa phương.
Hàng tháng phải viết tường trình về kết quả cai nghiện vào cuối tháng nộp cho Trưởng Tiểu ban phòng chống TNXH của bản hoặc tổ dân phố, nhà trường, cơ quan nơi cư trú, học tập, công tác.
Điều 12
Các hình thức cai nghiện ma tuý:
1. Thực hiện cai nghiện theo đúne quy trình cai nghiện 3 bước quy định tại
Điều 11 ( giai đoạn I) của Quy định này tại cộng đồng ( xã, phường, thị trấn, cơ quan, trường học).
2. Cai nghiện tại Trại tạm giam của Công an tỉnh và Trại giam Yên hạ của Cục V26 Bộ Công an ( tại huyện Phú yên ) cho người nghiện ma tuý đang bị giam giữ tại trại.
3. Cai nghiện tại nhà cho đến khi hết giai đoạn III đối với các trường hợp đặc biệt do Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã quyết định khi có một trong các điều kiện sau:
a) Có bệnh tật, sức khoẻ yếu, nếu đưa vào cai nghiện tập trung rất dễ xảy ra tử vong ( có xác nhận của cơ quan Y tế).
b) Có hoàn cảnh đặc biệt khó khàn, nếu đưa đối tượng vào cai nghiện thì không ai thay thế được để duy trì cuộc sống, sinh hoạt của gia đình người nghiện ma túy.
c) Người nghiện ma tuý dưới 16 tuổi hoặc trên 60 tuổi không đủ điều kiện để cai nghiện như những trường hợp khác.
Khi cai nghiện tại nhà, người nghiện ma tuý phải cam kết chịu sự quản lý của cơ quan chức năng, Chính quyền địa phương và cộng đồng. Gia đình ngưởi nghiện ma tuý phải cam kết quản lý người nghiện ma tuý theo đúng quy định của tỉnh.
Điều 13
Người nghiện ma tuý là học sinh, sinh viên các trường... phải nghỉ học để cai nghiện ma tuý tại gia đình hoặc cai nghiện tại các cơ sở Giáo dục-Lao động (theo Luật phòng chống ma tuý). Khi chấp hành xong thời gian cai nghiện giai đoạn II nếu người nghiện thực sự tiến bộ thì được chuyển sang giai đoạn III và được tiếp tục học tại các trường trên nhưng phải có sự quản lý chặt chẽ của cộng đồng, nhà trường và tập thể lớp.
Điều 14
Người nghiện ma tuý là cán bộ, công chức, viên chức và công nhân lao động cũng phải chấp hành cai nghiện ma tuý bắt buộc theo đúng các quy trình tại Quy định này. Trong thời gian chấp hành quyết định chữa trị, cai nghiện, người nghiện phải tự túc tiền ăn, tiền thuốc, các chi phí khác theo quy định và không được hưởng lương trong thời gian chữa trị, cai nghiện.
Điều 15
Trong thời gian cai nghiện, nếu người nghiện ma tuý có hành vi vi phạm nội quy, quy chế hoặc phạm tội thì tuỳ theo mức độ, sẽ bị xử lý bằng hình thức kéo dài thời gian cai nghiện hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Nếu người đang cai nghiện ma tuý mà bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện hoặc trốn khỏi địa phương thì cơ sở cai nghiện và UBND xã, phường, thị trấn nơi người nghiện ma tuý đăng ký hộ khẩu thường trú có trách nhiệm tổ chức phối hợp truy tìm và yêu cầu gia đình người nghiện ma tuý truy tìm đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện lại từ giai đoạn I tại xã, phường, thị trấn.
Điều 16
Công nhận hoàn thành cai nghiện:
Người nghiện ma tuý đã cai nghiện ở giai đoạn III nếu có các điều kiện sau thì được Ban chỉ đạo cấp xã xem xét và đề nghị Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã xét công nhận hoàn thành cai nghiện.
Có đủ thời gian cai nghiện giai đoạn III từ 2 năm (24 tháng) trở lên .
Chấp hành nghiêm chỉnh Quy trình cai nghiện và những quy định của Chính quyền địa phương, các lần xét nghiệm đều không có biểu hiện sử dụng chất ma tuý.
Có bản tự kiểm điểm đánh giá quá trình cai nghiện của bản thân ( có nhận xét đánh giá của chính quyền địa phương ).
Có đề nghị của nhà trường (nếu là học sinh phổ thông, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dậy nghề ) hoặc của cơ quan quản lý ( nếu là cán bộ công chức, viên chức và công nhân lao động).
Điều 17
Tái nghiện:
Người đang cai nghiện ở bất cứ giai đoạn nào của quy trình cai nghiện mà tiếp tục sử dụng ma tuý trái phép là tái nghiện và đều phải chấp hành quy trình cai nghiện lại từ giai đoạn I.
Nếu người tái nghiên chưa bị phát hiện nhưng tự giác xin cai nghiện lai từ giai đoạn I thì sẽ được chấp nhận, nhưng tuỳ theo mức độ, thời gian cai nghiện phải kéo dài hơn, tối đa bằng 2 lần thời gian quy định trong Quy định này.
CHƯƠNG IV
Điều 18
Người nghiện ma tuý, dù cai nghiện ở hình thức nào đều phải có hồ sơ cá nhân, gồm:
1. Đơn xin vào cai nghiện của người nghiện ma tuý và phải có ý kiến đề nghị của gia đình người nghiện. Trường hợp người nghiện ma tuý không tự giác viết đơn thì hồ sơ phải có đơn đề nghị của gia đình người nghiên, văn bản đề nghị đưa đi cai nghiện của cơ quan, đoàn thể, Chính quyền địa phương nơi người nghiện làm việc, cư trú hoặc những tài liệu chứng minh về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của người nghiện ma tuý.
2. Bản tự khai, tự kiểm điểm và biên bản ghi lời khai của người nghiện ma tuý do Công an xã, phường, thị trấn hoặc do các lực lượng nghiệp vụ khác của ngành Công an thực hiện.
3. Quyết định của UBND xã, phường, thị trấn đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện giai đoạn I hoặc quyết định cho cai tại nhà của Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã.
4. Sơ yếu lý lịch của người nghiện do Công an xã, phường, thị trấn lập.
5. Sổ theo dõi sức khoẻ do cơ quan Y tế cấp.
6. Quyết định của Chủ tịch UBND huyện, thị xã về việc đưa người nghiện ma tuý vào cai tại cơ sở Giáo dục-Lao động và quyết định cho người nghiện ma tuý từ cơ sở Giáo dục-Lao động về cai nghiện giai đoạn III tại gia đình và cộng đồng.
Ngoài ra tuy từng đối tượng đươc áp dung các hình thức cai nghiện mà quy định hồ sơ đối tượng đưa vào cơ sở Giáo dục-lao động huyện, thị xã có những giấy tờ cụ thể sau:
1. Thông báo của các Trại giam, Trại tạm giam đối với những người nghiện ma tuý từ các trại về.
2. Biên bản bàn giao người nghiện ma tuý chuyển sang giai đoạn II giữa Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn với cơ sở Giáo dục-Lao động.
3. Biên bản bàn giao người nghiện ma tuý về cai nghiện giai đoạn III giữa Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã, cơ sở Giáo dục-Lao động với Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn, Tiểu ban phòng chống TNXH cơ sở và gia đình người nghiện.
4. Bản kiểm điểm cá nhân của người nghiện về quá trình cai nghiện ở cơ sở Giáo dục-Lao động, có cam đoan từ bỏ ma tuý và có xác nhận của Giám đốc cơ sở Giáo dục-Lao động.
5. Đơn của gia đình người nghiện ma tuý có xác nhận của Tiểu ban phòng chống TNXM cơ sở và của Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn về việc bảo lãnh người nghiện ma tuý từ cơ sở Giáo dục-Lao động về cai nghiện giai đoạn III tại gia đình và cộng đồng.
6. Bản tường trình kết quả cai nghiện ma tuý hàng tháng của người nghiện ma tuý trong giai đoạn III.
7. Bản kiểm điểm của người nghiện ma túy và các hình thức xử lý của cơ quan có thẩm quyền trong những lần người nghiện ma tuý vi phạm kỷ luật hoặc tái nghiện nếu có ).
8. Kết quả những lần xét nghiệm.
9. Giấy công nhận hoàn thành cai nghiện và các tài liệu khác có liên quan đến quá trình cai nghiện của người nghiện ma túy.
Điều 19
Quản lý hồ sơ cá nhân người nghiện ma tuý:
Hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý được lập và quản lý theo từng giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn lập và quản lý hồ sơ.
Giai đoạn II: Do cơ sở Giáo dục-Lao động quản lý và bổ sung.
Giai đoạn III: Do Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn quản lý và bổ sung.
Khi được công nhận hoàn thành cai nghiện, toàn bộ hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý được chuyển giao cho cơ quan Công an huyện, thị xã quản lý và bổ sung theo chế độ quy định.
Điều 20
Trình tự thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện:
1. Lực lượng Công an có trách nhiệm thu thập, củng cố đầy đủ hồ sơ, tài liệu để Ban chỉ đạo cấp xã chuyển Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ký quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện giai đoạn I.
2. Kết thúc cai nghiện giai đoạn I, Ban chỉ đạo cấp xã lập danh sách, nhận xét và chuyển toàn bộ hồ sơ nhũng người nghiện đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I cho Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã xem xét trình Chủ tịch UBND huyện, thị xã ra quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện giai đoạn II tại cơ sở Giáo dục-Lao động huyện, thị xã.
Những người nghiện ma tuý được vào cai nghiện giai đoạn II thuộc đối tượng từ các trại giam, trại tạm giam trả về địa phương và người nghiện ma tuý được cho cai tại nhà, có đủ điều kiện chuyển cai giai đoạn II thì Ban chỉ đạo cấp huyện làm thủ tục như những trường hợp đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I.
3. Kết thúc giai đoạn II, cơ sở Giáo dục-Lao động lập danh sách đề nghị Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã xem xét để trình Chủ tịch UBND huyện, thị xã, ra quyết định tho người nghiện ma tuý về cai nghiện giai đoạư III.
CHƯƠNG V
Điều 21
Nghĩa vụ người được cai nghiện ma tuý:
Phải tự giác đi cai nghiện, nếu không tự giác sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Phải khai báo đầy đủ nhũng sai phạm của bản thân và của người khác mà mình biết.
Chấp hành nghiêm Pháp luật, các quy định hiện hành của Nhà nước, nội qui của cơ sở Giáo dục-Lao động, chịu sự quản lý toàn diện và tuân thủ qui trình cai nghiện của cơ sở. Phải nộp 200.000 đồng để phục vụ bản thân những ngày đầu mới đến cơ sở Giáo dục-Lao động để thực hiện cai nghiện giai đoạn II '
Phải lao động sản xuất làm ra sản phẩm để tự nuôi sống mình trong thời gian cai nghiện ở cơ sở Giáo dục-Lao động.
Trong thời gian đang chấp hành qui trình cai nghiện tại cơ sở Giáo dục-Lao động, nếu người nghiện vi phạm nội qui, qui trình cai nghiện thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý theo điều 15 Quy định này.
Trong trường hợp người đang thực hiện các giai đoạn cai nghiện mà còn sử dụng ma tuý ( Kết quả xét nghiệm dương tính ) thì người đó bị xử lý theo điều 17 quy chế này. Nếu phải điều trị tại các bệnh viện của nhà nước thì người nghiện ma tuý hoặc gia đình người nghiện phải chịu chi phí điều trị theo qui định và gia đình người cai nghiện phải có trách nhiệm chăm sóc và quản lý người nghiện trong thời gian nằm tại bệnh viện.
Người cai nghiện tự túc tư trang cá nhân trong thời gian cai nghiện.
Sau khi chấp hành xong giai đoạn cai nghiện, chữa trị, lao động tại cơ sở, người nghiện được bàn giao cho chính quyền địa phương, tổ chức nơi người nghiện cư trú và phải chấp hành điểm b mục 3 điều 11 của quy chế nàv.
Điều 22
Quyền lợi của người được cai nghiện ma tuý:
Người đưa vào cơ sở Giáo dục-Lao động được khám sức klioẻ, được cai nghiện, chữa trị các bệnh thông thường. Nếu bị tai nạn hoặc mắc các bênh vượt quá khả năng của cơ sở thì được chuyển đến các bệnh viện của Nhà nước điều trị; Những đối tượng chính sách được miễn tiền viện phí theo quy định của Nhà nước.
Người được đưa vào cơ sở Giáo dục-Lao động được học tập văn hoá, chính sách, Pháp luật của Đảng và Nhà nước, được học nghề, phổ biến kỹ thuật an toàn lao động, được nghỉ những ngày lễ, tết tại cơ sở.
Người cai nghiện dưới 16 tuổi chỉ phải chịu nghĩa vụ lao động từ 1/2-2/3 so với người đủ 16 tuổi frở lên, được tổ chức học tập, lao động phù hợp độ tuổi.
Trường hợp thân nhân của người nghiện được đưa vào cơ sở Giáo dục-Lao động huyện, thị xã bị chết thì Ban giám đốc cơ sở cho phép người đó được về chịu tang theo quy định.
Trường hợp người nghiện đang thực hiện quyết định chữa trị cai nghiện, lao động tại cơ sở bị rủi ro chết thì Ban giám đốc cơ sở Giáo dục-Lao động báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để điều tra xác định nguyên nhân chết, lập biên bản, đồng thời thông báo cho gia đình người nghiện đến làm thủ tục mai táng. Nếu người chết không có thân nhân thì cơ sở Giáo dục-Lao động tổ chức mai táng theo thông lệ, kính phí mai táng do nhà nước cấp theo qui định.
Được hưởng thành quả lao động do chính mình làm ra theo quy định của cơ sở.
Được hưởng chính sách miễn thuế đối với các sản phẩm của mình làm ra trong qui trình cai nghiện, lao động tại cơ sở Giáo dục-Lao động trong tỉnh.
Người cai nghiện sau khi hoàn thành cai nghiện giai đoạn II được cấp 01 sổ theo dõi kết quả cai nghiện, được cơ sở y tế theo dõi sức khoẻ và xét nghiệm ma tuý định kỳ hoặc đột xuất theo quy định.
CHƯƠNG VI
Điều 23
Ngành Lao động-Thương Binh Xã Hội có trách nhiệm:
Phối hợp với Ngành Công an, Y tế và các ngành có liên quan, UBND các huyện, thị xã thống nhất việc quản lí và duy trì hoạt động của các cơ sở Giáo dục-Lao động; Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các cơ sở Giáo dục-Lao động các huyện, thị xã.
Hỗ trợ đào tạo nghề, hướng dẫn vay vốn giải quyết việc làm cho người nghiện ma tuý sau khi hoàn thành cai nghiện giai đoạn II và tham gia quản lý người nghiện.
Điều 24
Ngành Công an có trách nhiệm:
Phối hợp với Chính quyền địa phương và cơ sở Giáo dục-Lao động đưa người nghiện ma tuý vào các cơ sở cai nghiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền; phát hiện tổ chức điều tra, đấu tranh, kiểm soát truy quét các đối tượng buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý.
Theo dõi, quản lý hồ sơ của tất cả các đối tượng nghiện ma tuý ( kể cả số trốn cai nghiện, đang cải tạo tại các trại giam, tạm giam, đi chữa bệnh ...).
Phối hợp cùng với các cơ sở cai nghiện để lấy lời khai, hoàn chỉnh hồ sơ và quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian cai nghiện ở tất cả các giai đoạn.
Điều 25
Ngành Y tế có trách nhiệm:
Hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn y tế trong việc chữả trị cai nghiện theo phác đồ quy định của Bộ Y tế.
Chỉ đạo Trung tâm y tế các huyện, thị xã bố trí cán bộ, nhân viên tham gia bộ máy cơ sở Giáo dục-Lao động và trực tiếp điều trị cắt cơn nghiện, khám và chữa bệnh thông thường cho người nghiện tại các cơ sở Giáo dục-Lao động; Kiểm tra và xét nghiệm chất ma tuý để xác định người nghiện ma tuý. Phối hợp với các cơ sở cai nghiện lập sổ theo dõi sức khoẻ người cai nghiện ma tuý trong các giai đoạn cai nghiện.
Điều 26
UBND các huyện, thị xã, UBND các xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác tổ chức cai nghiện ma tuý trong phạm vi, thẩm quyền của địa phương; Phối hợp với Uỷ ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống ma tuý.
Điều 27
Các ngành, các cơ quan, đơn vị tổ chức đóng trên địa bàn toàn tỉnh, các tổ chức đoàn thể và nhân dân có trách nhiệm phối hợp đấu tranh, phòng, chống ma tuý trong nội bộ cơ quan và cơ sở địa phương mình. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp tham gia tổ chức thực hiện công tác phòng chống ma tuý trên địa bàn toàn tỉnh. Giám sát, động viên, tạo điều kiện giúp đỡ người nghiện.
Điều 28
Gia đình người nghiện có trách nhiệm:
Cùng với chính quyền địa phương đưa người nghiện vào các cơ sở Giáo dục-Lao động khi có quyết định của Chủ tịch UBND huyện, thị xã.
Đóng góp các chi phí theo quy định cho người nghiện trong thời gian chấp hành quyết định của Chủ tịch UBND huyện, thị xã tại các cơ sở Giáo dục-Lao động.
Có trách nhiệm khai báo với Chính quyền địa phương và cùng với Chính quyền địa phương đưa người nghiện trở lại cơ sở Giáo dục-Lao động khi người nghiện trốn khỏi cơ sở về nhà.
Nếu phải chi phí việc tìm người nghiện bỏ trốn, thì gia đình người nghiện trốn phải chịu toàn bộ chi phí (trừ trường hợp được xét miễn).
Cùng với Chính quyền địa phương tiếp tục quản lý, tạo việc làm cho người chấp hành xong quyết định của Chủ tịch UBND huyện, thị xã trở lại cộng đồng ổn định cuộc sống.
Được đến thăm, động viên, hỗ trợ tạo điều kiện cho người đang cai nghiện tại cơ sở Giáo dục-Lao động nhưng phải chấp hành đúng nội quy, quy định của cơ sở Giáo dục-Lao động.
CHƯƠNG VII
Điều 29
Tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục, chữa trị, lao động cho người nghiện ma tuý tại các cơ sở Giáo dục-Lao động được khen thưởng theo qui định.
Điều 30
Người bao che hoặc vi phạm các qui định về công tác giáo dục, chữa trị, lao động cho người nghiện tại các cơ sở Giáo dục-Lao động thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại về vật chất phải bồi thường theo qui định của Pháp luật.
CHƯƠNG VIII
Điều 31
Ngành Lao động-Thương binh Xã hội chủ trì phối hợp với các ngành liên quan có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện quy chế này.
Qui định này có hiệu lực từ ngày ký. Các văn bản trước đây của UBND tỉnh trái với Qui định này đều bãi bỏ.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc gì kịp thời phản ánh về UBND tỉnh ( qua Sở Lao động-Thương binh xã hội) để điều chỉnh, bổ sung./.