QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt "Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam" THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992
Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tại Tờ trình số 2423/MTg ngày 25 tháng 9 năm 1995;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 .- Phê duyệt "Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) của Việt Nam" với mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt và những nội dung chính như văn bản kèm theo.
Điều 2 .- Tổ chức thực hiện.
1. Các hành động cụ thể phải thực hiện dưới hình thức dự án với mục tiêu, nội dung, địa bàn, quy mô, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Các dự án phải được thẩm định trước khi cấp vốn thực hiện, nghiệm thu từng bước và kết thúc.
2. Nhiệm vụ của các cơ quan Trung ương:
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường là cơ quan đầu mối thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH, Bộ có trách nhiệm chủ động bàn bạc với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để từng bước thực hiện kế hoạch này. Hàng năm Bộ tổng hợp chung báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các nội dung kế hoạch.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, căn cứ vào nguồn lực trong nước và tài trợ từ nước ngoài, căn cứ vào các nội dung chính của kế hoạch đã nêu trên, trao đổi thống nhất với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường để bố trí kế hoạch cụ thể hàng năm cho các ngành và các địa phương thực hiện từng nội dung.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản và Trung tâm Khoa học tự nhiện và công nghệ quốc gia là những cơ quan chủ yếu thực hiện kế hoạch này. Hàng năm các cơ quan nói trên có trách nhiệm trao đổi thống nhất với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về các kế hoạch hành động cụ thể, thông báo cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường biết kết quả thực hiện để tổng hợp chung trình Thủ tướng Chính phủ.
Các Bộ giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi trong các chương trình kinh tế - xã hội do mình quản lý phải lưu ý ưu tiên cho những nội dung, địa bàn liên quan đến bảo vệ ĐDSH đồng thời chủ động bàn bạc với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về những vấn đề liên quan chung.
3. Nhiệm vụ của các địa phương:
Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Uỷ ban nhân dân tỉnh) chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch này trên địa bàn quản lý của mình.
Hàng năm Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập kế hoạch cụ thể, trao đổi thống nhất với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ liên quan để thực hiện, đồng thời hàng năm thông báo kết quả thực hiện cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường biết để tổng hợp chung trình Thủ tướng Chính phủ.
Điều 3 .- Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.
KẾ HOẠCH
HÀNH ĐỘNG ĐA DẠNG SINH HỌCCỦA VIỆT NAM
(Đã được phê duyệt tại Quyết định số: 845/TTg,
ngày 22/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ)
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi về sự phong phú, đa dạng của các hệ sinh thái, đa dạng của các loài và đa dạng của tài nguyên di truyền, gọi chung là đa dạng sinh học (ĐDSH). Các kết quả điều tra cho thấy, nước ta cóp khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên được khoảng 7.000 loài, 275 loài thú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2470 loài cá, 5.500 loài côn trùng... Tính độc đáo của ĐDSH này khá cao: 10% số loài thú, chim và cá của Thế giới tìm thấy ở Việt Nam, hơn 40% số loài thực vật thuộc loại đặc hữu, không tìm thấy ở nơi nào khác ngoài Việt Nam, nhiều loài gia súc, gia cầm đã được thuần dưỡng và tuyển chọn từ hàng ngàn năm nay.
Về giá trị kinh tế, các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản... thực chất là khai thác từ nguồn ĐDSH, ước tính hàng năm đem lại cho đất nước ta khoảng 2 tỷ USD. Nhiều nơi, nhất là miền núi, nguồn lương thực - thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh và mọi thu nhập chủ yếu đều dựa vào khai thác ĐDSH.
Tuy nhiên, việc gia tăng quá nhanh dân số nước ta, việc diện tích rừng bị thu hẹp, việc khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển, việc áp dụng quá rộng rãi các giống mới trong sản xuất nông nghiệp... đã dẫn tới sự thu hẹp hoặc mất đi các hệ sinh thái, dẫn tới nguy cơ tiêu diệt 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư. Sự mất đi của một loài là mất vĩnh viễn, đồng thời mất luôn cả nguồn tài nguyên di truyền. Trên thực tế tốc độ suy giảm ĐDSH của ta nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực.
Nhận thức được các giá trị to lớn về kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội... của ĐDSH đối với sự phát triển hiện tại và tương lai của cả loài người, thấy được trách nhiệm nặng nề về việc phải bảo vệ ĐDSH, nước ta đã cùng nhiều nước trên thế giới ký vào Công ước ĐDSH và làm cho Công ước có hiệu lực từ giữa năm 1993.
Từ những năm 1960 nước ta đã tiến hành những bước chính thức đầu tiên nhằm bảo tồn thiên nhiên. Năm 1972, sắc lệnh về Bảo vệ rừng đã dẫn đến việc tuyển mộ 10.000 kiểm lâm viên được phiên chế vào mọi cấp ở hầu khắp đất nước. Từ những năm 1980, những cố gắng chung về bảo vệ môi trường trong đó có bảo vệ ĐDSH đã được tiến hành ngày một nhiều hơn và hệ thống hơn.
Năm 1985, Chiến lược Bảo tồn quốc gia của Việt Nam đã được soạn thảo, một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển. Chiến lược đã được cộng đồng quốc tế hoan nghênh.
Năm 1991, Chính phủ thông qua Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững 1991 - 2000. Kế hoạch đã dẫn đến việc xây dựng và thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 1994, việc hình thành Bộ KHCN & Môi trường và các Sở KHCN & Môi trường ở các địa phương.
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước ĐDSH và theo tinh thần đó Việt Nam cũng như tất cả các nước khác phải hành động để bảo vệ ĐDSH.
Ở quy mô quốc gia, nhất thiết phải xây dựng và ban hành một Kế hoạch hành động ĐDSH.
I. TÌNH TRẠNG BẢO VỆ ĐDSH Ở VIỆT NAM
1/ Tình trạng sử dụng các loài về mặt kinh tế:
Việc sử dụng về mặt kinh tế của các loài trước hết là khai thác gỗ, khoảng 1,3-1,4 triệu m 3 gỗ được khai thác hàng năm, các lâm sản khác cũng được khai thác cho mục đích kinh tế bao gồm song, mây, tre nứa và củi. Khoảng 100.000 T tre nứa được khai thác làm nguyên liệu giấy. Trong tổng nhu cầu năng lượng của đất thì 75% là củi, ước tính hàng năm khai thác 22-23 triệu tấn nhiên liệu khai thác từ rừng tự nhiên. Ngoài ra có khoảng 2300 loài thực vật và một số loài động vật hoang dại được khai thác làm dược liệu, thức ăn cho người và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp và thủ công nghiệp... một khối lượng sản phẩm ngày càng tăng hiện đang được trao đổi mậu dịch với các nước láng giềng.
Hàng năm các sản phẩm ngư nghiệp ước tính 1 triệu tấn/năm, trong đó 60-70% là cá đánh bắt trên biển, cung cấp một nửa lượng đạm động vật quốc gia. Môi trường nước ngọt cung cấp khoảng 20 -30 ngàn tấn/năm cá, ba ba, ếch, các loài cá nuôi cũng cung cấp sản lượng 200 tấn/năm.
2/ Những đe doạ đối với ĐDSH:
Cùng với quá trình thu hẹp dần các hệ sinh thái, làm mất dần nơi cư trú, nhiều loài đang trong nguy cơ bị tiêu diệt. Trong sách đỏ Việt Nam, các nhà khoa học đã thống kê được hơn 300 loài động vật và 350 loài thực vật bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân chung là:
Khai thác quá mức:
Việc khai thác gỗ và các lâm sản khác ngoài gỗ vẫn còn là một mối đe doạ lớn, mặc dù khu vực khai thác gỗ hợp pháp rất hạn chế và việc xuất khẩu gỗ cây, khai thác tại những khu vực quan trọng, khai thác một số loài nhất định đã bị hạn chế nhiều. Việc khai thác nhiên liệu trên quy mô lớn rất khó kiểm soát là mối đe doạ lớn nhất đối với ĐDSH ở nhiều nước. Chất lượng và sản lượng rừng ngày càng giảm ở những nơi gần dân. Rừng nhiều vùng bị xé lẻ và trở nên nhỏ hơn, tách biệt ra khỏi những khu rừng khác, chúng không còn khả năng hỗ trợ tạo sinh cảnh cho sự phong phú của các loài như ban đầu.
Nạn đánh bắt cá quá mức là một sự thật trong cuộc sống ở khắp mọi nơi. Hơn nữa phương pháp đánh bắt không được áp dụng một cách có lựa chọn, thậm chí mang tính tàn phá như bẫy cá, thả đăng, lưới mắt quá nhỏ, chất nổ và có nơi sử dụng cả chất độc.
Nạn khai thác san hô là điều đáng lo ngại nhất ở ven biển miền Trung từ Đà Nẵng đến Thuận Hải. Khai thác san hô chết ở những vùng thuỷ triều thường dùng chất nổ lấy nguyên liệu sản xuất xi măng (Khánh Hoà, Ninh Thuận) đã tác động lớn tới môi trường sống của nhiều sinh vật biển và hạn chế khả năng ngăn chặn xói mòn vùng ven biển.
Du canh và xâm lấn đất của canh tác nông nghiệp.
Từ nhiều đời nay, một số dân tộc thiểu số thực hiện du canh luân phiên ổn định theo chu kỳ. Cánh đồng được làm đất canh tác trong vài năm tiếp theo cho đất nghỉ vài năm cho rừng phục hồi lại rồi lại đốt nương dùng canh tác lại. Hệ thống canh tác này chỉ mở một tỷ lệ rừng rất nhỏ và có tác dụng làm giầu loài thông qua việc cho phép những loài mới đến cư trú. Cùng với quá trình gia tăng dân số, hệ thống canh tác này không còn ổn định, chu kỳ sử dụng đất rút ngắn dần đồng thời diện tích rừng cũng bị thu hẹp dần. Việc di dân, khai hoang lấy đất canh tác nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản... cũng làm giảm dần diện tích các hệ sinh thái rừng.
Du canh cũng là một nguyên nhân thường dẫn đến cháy rừng, trong số 9 triệu ha rừng hiện còn thì có khoảng 56% thuộc diện rừng dễ cháy vào mùa khô, hàng năm cháy mất khoảng 20-30 ngàn ha rừng thậm chí có năm lên đến 100 ngàn ha rừng. Mất rừng đã gây thất thoát không nhỏ cho ĐDSH.
Nạn ô nhiễm nước:
Ô nhiễm dầu được coi là một hiểm hoạ lớn nhất đối với môi trường biển. Mức dầu lẫn trong nước biển ven bờ từ 0,4 - 1,0 mg/lít đã thường xuyên vượt quá mức cho phép nhiều lần, đó là do hoạt động khai thác dầu khí và giao thông vân tải biển tạo ra. Tỉnh Quảng Ninh cũng chịu những vấn đề lắng bùn nghiêm trọng ở vùng nước ven biển do hoạt động khai thác than và đất sét. Hàng triệu tấn bùn cát do nạo vét các cảng (cảng Hải Phòng nạo vét 3 - 5 triệu tấn/năm) thường tạo ra bùn lắng ở cửa sông và ven biển có lẫn dầu và các độc tố, gây hại cho các hệ sinh thái ven biển và sinh vật biển.
Sự xuống cấp của vùng bờ biển:
Quá trình xây dựng các ao hồ nuôi trồng thuỷ sản dọc bờ biển, khai hoang lấn biển làm đồng muối hay canh tác nông nghiệp, xây dựng khu dân cư ... thường dẫn đến làm giảm diện tích vùng thuỷ triều, tăng độ chua phèn, thay đổi quá trình bùn lắng ... làm rất nhiều đầm lầy thuỷ triều bị phá huỷ hay giảm cấp nghiêm trọng. Việc khai thác ở quy mô lớn cát, đá cho xây dựng và các khoáng sản khác là nguyên nhân gây ra sói mòn vùng ven biển miền Nam Trung Bộ, đồng thời làm nghèo nước và tác động đến thành phần tầng dưới của hệ sinh thái biển.
Sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
Quá trình chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường đã tác động mạnh tới suy nghĩ của người nông dân, thị trường thúc đẩy họ áp dụng nhiều giống, loài mới có năng suất và chất lượng mà thị trường yêu cầu, quá trình này cũng là mối đe doạ lớn cho những giống, loài canh tác truyền thống đã thích ghi lâu đời với khí hậu và thổ nhưỡng địa phương, có nhiều tính trạng di truyền quý nhưng bị lãng quên vì không đáp ứng được thị trường trước mắt.
Tình trạng khai thác sử dụng các loài như hiện nay làm cho nhiệm vụ bảo vệ ĐDSH chung của đất nước càng trở nên cấp bách.
II.
MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ĐDSH CỦA VIỆT NAM .
Mục tiêu lâu dài của kế hoạch là:
Mục tiêu trước mắt của kế hoạch là: