NGHỊ QUYẾT Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1995 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào
Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;
Căn cứ
Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Sau khi xem xét báo cáo của UBND tỉnh, các báo cáo của các ngành chức năng, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV và ý kiến của các Đại biểu HĐND tỉnh khoá V,
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1994, phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 1995. Đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:
I. VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NĂM 1994:
Năm 1994, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển, hầu hết các chỉ tiêu cơ bản đều đạt kế hoạch và so với cùng kỳ đều tăng. Duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh 7%, trong đó tổng sản lượng nông nghiệp tăng 2,4%, CN - TTCN tăng 9,4%, so với năm 1993, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, bước đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng NQ hội nghị Trung ương 5; lưu thông vật tư, hàng hóa tiếp tục phát triển, mở rộng mạng lưới viễn thông nông thôn; đưa điện về 121/157 xã; mức sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện; các lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội có nhiều cố gắng và tiến trọ, an ninh - chính trị được giữ vững.
Những thành tựu nói trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch 5 năm (1991-1995), làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh ta còn đang đứng trước những khó khăn và tồn tại cần được khắc phục là chưa xây dựng các quy hoạch tổng thể phù hợp với tình hình mới để định hướng chiến lược phát triển, thiếu các dự án chuẩn bị đối tác thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, chưa đầu tư đúng mức và khai thác có hiệu quả các thế mạnh của tỉnh là kinh tế biển và kinh tế vườn, thị trường và công nghiệp chế biến còn hạn chế nhiều so với tiềm năng về nguyên liệu; kinh tế đối ngoại chậm phát triển: hiệu quả sản xuất - kính doanh của một số đơn vị quốc doanh chưa cao nhất là ngành dừa; thương nghiệp quốc doanh chưa chú trọng đúng mức thị trường nông thôn; quản lý kinh tế ngoài quốc doanh chưa chặt làm thất thu ngân sách chậm triển khai quỹ quốc gia giải quyết việc làm và chương trình xóa đói giảm nghèo đều chậm, tệ tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội ngăn chặn chưa có hiệu quả và có chiều hướng phát triển. Tình trạng vi phạm pháp luật và phạm tội còn nhiều; công tác tiến hành cải cách thủ tục hành chính chưa triệt để; việc củng cố xây dựng tổ chức, quy hoạch cán bộ thiếu được quan tâm thường xuyên. Các vấn đề chính sách xã hội chưa được giải quyết thỏa đáng, cơ sở vật chất và đời sống một bộ phận không nhỏ nhân dân vùng sâu, vùng kháng chiến còn khó khăn.
II. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 1995:
Phát huy những kết quả đạt được của năm 1994. Kế hoạch năm 1995 được thực hiện trong tình hình thuận lợi là có Nghị quyết hội nghị Trung ương lần 7 về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần kịp thời nắm lấy thời cơ nhưng đồng thời phải thấy thực trạng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là một thử thách lớn đối với tỉnh ta. Do vậy, tỉnh cần phải phấn đấu thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ cao hơn; tập trung mọi nguồn lực để đầu tư khai thác triệt để các thế mạnh kinh tế của tỉnh, chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến và thương mại – du lịch trong GDP của hai lĩnh vực này.
Tạo cho được những chuyển biến mới trên lĩnh vực tiếp thị, khoa học và công nghệ, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá – xã hội, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa kinh tế và xã hội, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh.
Đẩy mạnh cuộc vận động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Tăng cường công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo sử dụng đội ngũ cán bộ viên chức đáp ứng kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát triển.
Thực hiện triệt để cải cách thủ tục hành chánh, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước.
Trong năm 1995, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu chủ yếu:
Tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng 7,2 – 7,5% so năm 1994
Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 4 – 4,5% so năm 1994
Giá trị sản lượng công nghiệp – TTCN tăng 9-10% so năm 1994
Kim ngạch xuất khẩu: 23 triệu USD
Sản lượng lương thực 340.000 – 350.000 tấn
Hạ tỷ suất sinh 0,06 – 0,07%.
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành các nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp lớn mà UBND tỉnh đã báo cáo, đồng thời lưu ý UBND tỉnh trong quá trình chỉ đạo, điều hành cần quan tâm đến các vấn đề chủ yếu:
1. Về kinh tế:
Tiến hành điều tra cơ bản tình hình tự nhiên và kinh tế xã hội làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch tổng thể và các quy hoạch chuyên ngành phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng 4,5,7.
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN làm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân. Phát huy và nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế quốc doanh. Đối với các doanh nghiệp hoạt động ổn định, có chiều hướng phát triển cần tập trung tạo điều kiện tăng nguồn vốn cho đơn vị để mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ. Có chỉ đạo cho các đơn vị quốc doanh xây dựng phương án và dự án đổi mới công nghệ để tranh thủ các nguồn vốn trong và ngoài nước. Từng bước đổi mới thiết bị hiện đại của các nhà máy chế biến thuỷ sản của tỉnh.
Trong nông nghiệp cần tập trung đầu tư phát triển toàn diện Nông – Lâm – Ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, thay giống lúa mới, mở rộng việc thực hiện chương trình IPM, ứng dụng phân lân nung chảy, mở rộng kết quả chuyển vụ, đưa KHKT vào vùng sản xuất lúa chuyên canh và vùng sản xuất lúa xuất khẩu.
Tăng cường đầu tư cho công tác khuyến ngư – nghiên cứu thành lập Trung tâm Khuyến ngư của tỉnh. Quy hoạch và triển khai thực hiện thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm trước mắt ở các vùng nuôi trọng điểm Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri và cân đối nguồn vốn đầu tư cho công tác này. Đầu tư việc sản xuất giống tôm và thức ăn nuôi tôm tại tỉnh. Tăng cường quản lý và đẩy nhanh tốc độ trồng rừng phòng hộ theo dự án tổng quan lâm nghiệp.
Có biện pháp xử lý cụ thể đối với các công trình thuỷ lợi không phát huy tác dụng, các công trình xuống cấp song song với việc đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các công trình thuỷ lợi đầu mối còn dở dang để sớm đưa vào hoạt động.
Đẩy mạnh việc cải tạo vườn tạp, đầu tư thâm canh các loại cây có giá trị kinh tế cao. Tăng cường việc quản lý sản xuất giống và tổ chức việc nhân nhanh các giống mới sạch bệnh. Trên cơ sở đề án cải tạo vườn tạp huyện Chợ Lách, các huyện còn lại cần nghiên cứu xây dựng đề án cải tạo của huyện mình để ngành ngân hàng có cơ sở tranh thủ thêm nguồn vốn của Trung ương đầu tư cho phát triển cây ăn trái của tỉnh.
Có biện pháp tích cực đầu tư ứng vốn để tăng tốc độ và hoàn thành việc cấp quyền sử dụng đất cho nông dân năm 1995, trước hết là các huyện vùng biển.
Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm việc thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại 3 xã điểm để mở rộng thành chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn tỉnh nhằm thu hút các nguồn vốn, ưu tiên tập trung cho các xã vùng sâu, các xã vùng căn cứ cách mạng.
Trong XDCB – GTVT: phải bảo đảm chất lượng công trình. Tập trung đầu tư chương trình chuyển tiếp phải hoàn thành trong năm 1995, cân nhắc, xem xét đầu tư mới những công trình đang có nhu cầu bức bách. Khuyến khích cá nhân, tổ chức hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH. Trong đầu tư xây dựng phải thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư, kiên quyết đưa công tác đầu tư XDCB vào nề nếp ngay từ đầu năm, đảm bảo tiết kiệm, chất lượng và hiệu quả đầu tư. Thực hiện đấu thầu tất cả các công trình XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
Phấn đấu đến cuối năm 1995 có 100% số xã trong tỉnh có bưu chính viễn thông; mở rộng lưới điện phục vụ sản xuất tiêu dùng ở nông thôn, phấn đấu có 140 xã có điện về tới trung tâm và có biện pháp để dân nghèo có điện.
Về thương mại, du lịch - đối ngoại: kiên quyết giải thể và sắp xếp lại các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không hiệu quả. Củng cố các doanh nghiệp đủ mạnh để mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh - dịch vụ - phát triển các ngành nghề nông thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản của tỉnh trong và ngoài nước. Khẩn trương thực hiện đề án phát triển du lịch - dịch vụ. Trong năm 1995 tập trung đầu tư và khai thác các khu du lịch, đồng thời nâng cấp khách sạn phục vụ khách quốc tế.
Về kinh tế đối ngoại: tăng cường kêu gọi đối tác đầu tư, nhập công nghệ mới, tạo sản phẩm chất lượng cao, phải sớm xây dựng cho được các dự án chuẩn bị đối tác, tổ chức thẩm định chặt chẽ đảm bảo các hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường trước khi đưa ra đối tác; tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ đủ sức tiếp nhận thực hiện các nhiệm vụ hợp tác đầu tư. Đồng thời tranh thủ các nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ.
Về ngân sách - tiền tệ: cần tính toán, khai thác và huy động hết các nguồn thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thực hiện công bẳng thu thuế giữa khu vực kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Có biện pháp tích cực, cụ thể chống thất thu thuế, kiểm tra chặt chẽ các khoản chi trên tinh thần tiết kiệm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhất là đối với cấp xã để tránh tiêu cực. Trước mắt, HĐND tỉnh tạm thời thống nhất chỉ tiêu tổng thu 186,1 tỷ, tổng chi 185 tỷ theo dự toán bước 1 để tạo điều kiện thuận lợi cho sự điều hành của UBND tỉnh trong quí I/1995. Sở Tài chánh Vật giá tiếp tục làm việc với Bộ Tài chánh để có dự toán cụ thể trình HĐND tỉnh quyết định trong kỳ họp tiếp theo.
Ngành ngân hàng cần có biện pháp tích cực tạo nguồn nhất là vốn tín dụng trung hạn và dài hạn phục vụ cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng thí điểm quỹ tín dụng nhân dân.
2. Về khoa học công nghệ và môi trường:
Gắn hoạt động khoa học công nghệ với sản xuất, đời sống; có chính sách đào tạo và khuyến khích đốivới cán bộ làm công tác khoa học trong tỉnh, thu hút chất xám ngoài tỉnh về liên kết thực hiện các chương trình nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ. Đổi mới công tác quản lý, tăng nhanh hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, tập trung trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, khoa học xã hội, đảm bảo đo lường, chất lượng sản phẩm.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế, chú ý đầy đủ vấn đề bảo vệ môi trường để đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài. Triển khai và thực hiện nhanh Luật Bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm những hành vi phá hoại môi trường.
3. Về văn hóa – giáo dục – đào tạo:
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá. Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn trong năm 1995 để giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc. Đẩy mạnh công tác xây dựng văn hoá, thông tin ở cơ sở để làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
Tăng cường quản lý Nhà nước và vận động rộng rãi nhân dân tham gia trong lĩnh vực văn hoá – thông tin; chống văn hoá đồi truỵ, lạc hậu, có biện pháp ngăn chặn và bài trừ kịp thời phim ngoài luồng, những tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, có biện pháp xử lý kịp thời những vi phạm nhằm từng bước đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hoá, thông tin, thể dục thể thao. Tổ chức tốt đại hội thể dục - thể thao lần 3, tăng cường đầu tư và mở rộng phong trào thể dục thể thao quần chúng.
Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học ở các ngành học, cấp học. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo. Thực hiện dần việc ngói hoá trường tiểu học, đồng thời kiên quyết xoá cas 3 hạn chế phòng học tạm, xoá trường tre lá tạm bợ nhất là ở vùng sâu và vùng căn cứ kháng chiến cũ. Phát triển các loại hình đào tạo về học nghề, ngoại ngữ, tin học để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Có biện pháp huy động toàn xã hội thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ tiến lên thí điểm phổ cập giáo dục trung học, (cấp II),một vấn đề lưu ý là phải huy động cho hết số trẻ đến độ tuổi vào lớp 1 và có biện pháp tích cực trong việc chống bỏ học. Có kế hoạch và đầu tư đúng mức trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, viên chức Nhà nước. Thường xuyên bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên và sử dụng đúng trình độ đã được đào tạo. Tiếp tục chuẩn hoá giáo viên tiểu học, chú trọng đào tạo giáo viên tại chỗ để tạo điều kiện ổn định lâu dài. Đào tạo chuẩn hoá đội ngũ Ban Giám hiệu các trường, cán bộ quản lý ngành giáo dục. Có chính sách khuyến khích thoả đáng đối với giáo viên giỏi, giáo viên đến dạy ở những xã thuộc vùng sâu, ven biển và đối với giáo viên tại chỗ mà đời sống rất khó khăn.
4. Về các vấn đề xã hội, y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình:
Triển khai thực hiện tốt Bộ Luật lao động và Pháp lệnh chính sách đối với người có công, ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ. Rà soát lại, giải quyết nhanh các trường hợp không chính xác, nhanh chóng tổ chức tìm kiếm và quy tập mộ những cán bộ chiến sỹ đã hy sinh trong chiến tranh. Thực hiện tốt Pháp lệnh phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tổ chức triển khai thực hiện tốt hơn quỹ quốc gia giải quyết việc làm, mở rộng dạy nghề và vận động di dân xây dựng vùng KTM trong và ngoài tỉnh. Kiểm tra, thanh tra lại việc thực hiện chính sách thương binh xã hội ở cơ sở.
Tăng cường biện pháp phòng, chống các tệ nạn xã hội nhất là các tệ mại dâm, ma túy, cờ bạc, trộm cắp…xử lý nghiêm kẻ phạm tội nhất là người mua dâm, bọn chủ chứa, môi giới mại dâm, mua bán chất ma tuý.
Thực hiện tốt chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu nhất là việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Có biện pháp giảm tỷ lệ bệnh phụ khoa của phụ nữ nông thôn, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.Tranh thủ các tổ chức nhân đạo giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn. Củng cố và phát triển các trạm y tế cơ sở. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nâng cấp các bệnh viện. Tạo thuận lợi trong điều trị có bảo hiểm để thu hút nhiều đối tượng mua bảo hiểm y tế, mở rộng bảo hiểm y tế tự nguyện trong trường học. Thực hiện trong toàn dân ăn muối Iod chống bướu cổ.
Tăng cường quản lý tốt các phòng khám, điều trị tư nhân và có biện pháp động viên, tận dụng lực lượng này để mở rộng màng lưới phục vụ nhân dân ở nông thôn.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục và truyền thông dân số, kết hợp công tác tư vấn về kế hoạch hoá gia đình, xây dựng bộ máy và tổ chức mạng lưới cộng tác viên ở cơ sở, đồng thời duy trì phong trào sau truyền thông. Ngành y tế phối hợp với đoàn thể tổ chức triển khai sâu rộng các dịch vụ tránh thai, phòng chống dịch bệnh, chống lây nhiễm vi rút HIV/AIDS và các bệnh xã hội.
Cần đầu tư xây dựng cho chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhất là đối với vùng lợ, mặn.
5. Về an ninh - quốc phòng:
Động viên toàn dân, toàn quân giữ vững ổn định chính trị. Tăng cường giáo dục trong nhân dân ý thức đề cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu diễn biến hoà bình, chủ động đối phó và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh. Tăng cường công tác phòng thủ sẵn sàng chiến đấu ở khu vực. Phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu giao quân hằng năm cả về số lượng và chất lượng. Chú ý giáo dục truyền thống cách mạng, Luật Nghĩa vụ quân sự trong thanh niên và thực hiện đúng luật.
Củng cố và nâng cao chất lượng Tổ nhân dân tự quản, phát động phong trào quần chúng kết hợp với các ban ngành đoàn thể, các cơ quan bảo vệ pháp luật trong giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phòng và chống các tệ nạn xã hội. Thí điểm xây dựng quỹ an ninh quốc phòng cơ sở.
6. Về thi hành pháp luật, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu:
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục cho cán bộ và nhân dân ý thức tôn trọng pháp luật. Giám sát việc thi hành pháp luật nhất là trong lĩnh vực quản lý ngân sách cấp xã, trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và tranh chấp đất, về chính sách hậu phương quân đội, trật tự trị an, tệ nạn xã hội, việc thực hiện trình tự tố tụng, xét xử, thi hành án…
Tiếp tục xây dựng và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật thực sự trong sạch, vững mạnh để làm tốt công tác đấu tranh bảo vệ pháp luật, phòng chống tội phạm, chống tham nhũng, chống buôn lậu và các vi phạm pháp luật. Khi phát hiện những hành vi vi phạm phải xử lý kịp thời, nghiêm minh theo đúng pháp luật bất kỳ người đó ở cương vị nào.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng chức quyền, tham ô, hối lộ, buôn lậu hoặc tiếp tay cho bọn buôn lậu cố ý làm trái gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước, sách nhiễu làm thiệt hại lợi ích của nhân dân.
Củng cố và kiện toàn BCĐ “thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” và BCĐ “chống tham nhũng, chống buôn lậu”, tổ chức sơ kết tình hình thực hiện công tác này và những nhiệm vụ cụ thể thực hiện trong năm 1995.
7. Về công tác chỉ đạo điều hành:
Tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy chính quyền, nâng cao năng lực quản lý, điều hành từ tỉnh đến cơ sở, hoạt động có hiệu lực. Thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Có quy chế phối hợp chặt chẽ trong mối quan hệ làm việc giữa Thường trực HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân, động viên nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 1995.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao trách nhiệm do UBND tỉnh chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan hoàn chỉnh các đề án chưa hoàn thành trong năm 1994, đó là:
Đề án kinh tế biển (chú ý gắn với bảo vệ vùng biển)
Đề án tổng quan giải quyết việc làm
Đề án xoá đói, giảm nghèo
Đề án văn hoá – văn nghệ.
Đồng thời nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng các đề án, dự án theo ý kiến đề nghị của các Ban HĐND tỉnh khoá IV và Đại biểu HĐND tỉnh khoá V.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
Các Ban của HĐND tỉnh có nhiệm vụ giúp cho Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật .
Đại biểu HĐND các cấp phải gương mẫu thực hiện Nghị quyết của HĐND, đồng thời tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt Nghị quyết HĐND.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi đồng bào, CB, CBV và chiến sỹ trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, nêu cao ý thức tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, nỗ lực vượt bậc hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KT-XH năm 1995 của tỉnh.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa V, kỳ họp thứ 1 thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1994./.