THÔNG TƯ Hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 Thực hiện Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12 tháng 06 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007; Bộ Tài chính hướng dẫn công tác đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ ngân sách nhà nước năm 2006 và xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 như sau: A. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2006
Căn cứ nhiệm vụ NSNN năm 2006 đã được Quốc hội quyết định,
căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách năm 2006 đã được Thủ tướng Chính phủ giao, phát huy những kết quả quan trọng đã đạt được của 6 tháng đầu năm, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương trong 6 tháng cuối năm 2006 tập trung thực hiện đầy đủ các giải pháp theo Nghị quyết số 47/2005/QH11 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2006, Nghị quyết số 01/2006/NQ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006 và Thông tư số 100/2005/TT-BTC ngày 17/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2006. Phấn đấu hoàn thành vượt mức toàn diện các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006. Cùng với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ NSNN năm 2006; các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NSNN năm 2006 làm căn cứ xây dựng dự toán NSNN năm 2007 theo những nội dung chủ yếu sau: I. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ thu NSNN năm 2006:
Căn cứ kết quả thu 6 tháng đầu năm, đánh giá kết quả thu năm 2006 trên cơ sở thực hiện các biện pháp phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước đã được giao; trong đó tập trung phân tích một số vấn đề chủ yếu sau: - Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2006, so với nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao và nhiệm vụ thu ngân sách Hội đồng nhân dân giao. Năm 2006 phấn đấu thực hiện tăng thu ngân sách nhà nước tối thiểu 3% so dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) tăng tối thiểu 5%, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng chế độ chính sách và kim ngạch xuất nhập khẩu thực tế phát sinh. - Đánh giá, phân tích những nhân tố ảnh hưởng, tác động đến kết quả thực hiện thu năm 2006 như: Năng lực sản xuất - kinh doanh mới tăng thêm do đầu tư mới, đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu; việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước dưới các hình thức như cổ phần hóa, thành lập tập đoàn công ty mẹ - công ty con...; các dự án liên doanh; rà soát, đánh giá kết quả thu từ các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài đi vào hoạt động và đã hết thời gian hưởng ưu đãi; kết quả thực hiện các chỉ tiêu về sản lượng sản xuất và tiêu thụ của các sản phẩm chủ yếu; giá thành; giá bán, lợi nhuận; kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch đấu giá thu tiền sử dụng đất; tình hình giao dịch mua bán bất động sản;... - Đánh giá, phân tích tác động ảnh hưởng của việc sửa đổi, bổ sung về chế độ, chính sách và cơ chế quản lý thu trong năm 2006 đến kết quả thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt theo Luật sửa đổi, bổ sung, thuế tài nguyên nước thuỷ điện, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, phí và lệ phí, các khoản thu liên quan đến nhà đất; việc mở rộng thí điểm phương thức quản lý thu theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế; việc ủy nhiệm thu một số khoản thuế, phí cho Uỷ ban nhân dân xã, phường quản lý; thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN và các cam kết hội nhập khác (Hiệp định trị giá GATT)... - Đánh giá, phân tích kết quả của các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội của Chính phủ, các Bộ ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị trên địa bàn, công tác quản lý thu NSNN; kết quả phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan trong công tác quản lý thu ngân sách và tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát truy thu nợ đọng, chống thất thu, chống buôn lậu, chống gian lận thương mại,... - Tình hình nợ đọng thuế năm 2006: xác định rõ số tiền thuế tồn đọng năm 2005 chuyển sang, số thu phát sinh năm 2006, số đã thu được trong năm 2006 và số chuyển sang thu trong năm 2007. Tổng hợp đầy đủ chính xác số thuế nợ đọng, phân loại nợ thuế theo thời gian và nguyên nhân. Đánh giá kết quả việc xử lý nợ đọng thuế theo Chỉ thị số 15/2005/CT-TTg ngày 15/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ. - Tình hình kê khai, hoàn thuế giá trị gia tăng; số thuế phải hoàn phát sinh trong năm 2006; số đã hoàn cho các doanh nghiệp trong năm 2006; dự kiến số phải hoàn của năm 2006 chuyển sang hoàn thuế năm 2007;... II. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách năm 2006: 1. Đối với nhiệm vụ chi đầu tư phát triển: 1.1. Đánh giá công tác bố trí và tổ chức thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006: - Đánh giá tình hình phân bổ, giao dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2006: + Đánh giá việc phân bổ, bố trí nguồn vốn thực hiện các dự án, công trình đầu tư XDCB trong năm 2006, nhất là đối với các công trình, dự án quan trọng đảm bảo theo tiến độ, các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2006 (so sánh và phân tích nhu cầu vốn cho các công trình, dự án XDCB đã được phê duyệt với nguồn vốn đã bố trí để thực hiện năm 2006); bố trí vốn để thanh toán nợ đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách, để hoàn trả đủ số vốn đã được ngân sách tạm ứng phải hoàn trả trong năm theo quy định. + Đánh giá tình hình thực hiện các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); việc đảm bảo vốn đối ứng cho các dự án ODA theo cam kết; tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA và vốn đối ứng. + Đánh giá việc thực hiện các quy định đảm bảo bố trí vốn đối với công trình nhóm C hoàn thành trong thời hạn không quá 2 năm, công trình nhóm B hoàn thành trong thời hạn không quá 4 năm; việc chống dàn trải, kéo dài thời gian đầu tư không hiệu quả; việc thực hiện điều chuyển, giảm chi đối với số vốn không phân bổ được cho các công trình, dự án khác. + Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đánh giá việc bố trí hoàn trả đủ (cả gốc và lãi) các khoản vay, tạm ứng đến hạn: các khoản huy động theo quy định tại khoản 3
Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước; các khoản vay tín dụng ưu đãi thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng làng nghề, hạ tầng thuỷ sản; các khoản ngân sách trung ương đã ứng trước phải thu hồi vào dự toán ngân sách năm 2006...
Đánh giá tình hình, kết quả thực hiện vốn đầu tư XDCB:
+ Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB năm 2006 theo các nội dung: số lượng dự án, công trình; kế hoạch vốn đầu tư được giao; khối lượng XDCB hoàn thành thực hiện; khối lượng XDCB hoàn thành đã nghiệm thu; số vốn đã được thanh toán (trong đó thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành); số lượng dự án, công trình hoàn thành, trong đó hạng mục công trình hoàn thành;... (chia theo nhóm A, B, C).
+ Đánh giá về việc chấp hành quy định về quản lý vốn đầu tư: thủ tục đầu tư; thời gian, tiến độ thực hiện, quyết toán vốn đầu tư... các công trình, dự án XDCB trong năm 2006; những tồn tại trong cơ chế, chính sách quản lý đầu tư hiện nay.
+ Đối với các tỉnh, thành phố đánh giá tình hình thực hiện quy định tại Khoản 3
Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước về huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và tình hình trả nợ số đã huy động đến hạn, ước dư nợ huy động đến 31/12/2006 (đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá việc huy động vốn đầu tư theo cơ chế tài chính - ngân sách đặc thù của địa phương). Đánh giá tình hình thực hiện đấu giá đất và bố trí, sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất cho đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng của địa phương.
+ Đánh giá về việc bố trí và thực hiện nguồn từ trái phiếu Chính phủ, vốn công trái giáo dục và các nguồn khác theo quy định.
+ Tổng hợp, đánh giá, phân tích tình hình nợ đọng khối lượng đầu tư XDCB và kết quả thực hiện các biện pháp xử lý nợ đọng khối lượng đầu tư XDCB.
+ Đánh giá, phân tích về hiệu quả đầu tư XDCB năm 2006 và các năm trước; các tồn tại, nguyên nhân và giải pháp khắc phục; trong đó tập trung đánh giá, phân tích đối với các công trình, dự án trọng điểm của quốc gia, các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA; các dự án từ nguồn trái phiếu Chính phủ, công trái giáo dục; các dự án đầu tư từ nguồn tiền sử dụng đất, nguồn thu xổ số kiến thiết (kể cả phần trung ương bổ sung);...
1.2. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh năm 2006: thực hiện quy định về miễn, giảm thuế đối với đánh bắt hải sản, sản xuất muối chưa qua chế biến, các doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số; thực hiện hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; trong đó các địa phương chú ý đánh giá việc thành lập, quản lý và tổ chức thực hiện các quỹ tài chính, tín dụng ở địa phương như: Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển đô thị.... Đánh giá việc thực hiện các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ xuất khẩu, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công ích,...
2. Đối với nhiệm vụ chi thường xuyên:
2.1. Đánh giá, phân tích kết quả bố trí, quản lý sử dụng ngân sách thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo từng chỉ tiêu nhiệm vụ được nhà nước giao cho Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị trong năm 2006; trong đó chú ý tập trung đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, các chương trình, dự án lớn của từng ngành, lĩnh vực, địa phương và đơn vị.
2.2. Đánh giá kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách và chế độ chi tiêu trong năm 2006 thực hiện các nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị. Trong đó tập trung đánh giá kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách sau:
Đánh giá kết quả thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và
Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ; đánh giá tình hình chi mua sắm ôtô, trang bị sử dụng điện thoại, chi thuê, mua trụ sở làm việc, chi hội nghị, tiếp khách, tiết kiệm xăng dầu, các dự án sử dụng nguồn vốn ODA...
Mục tiêu, nguyên tắc:
Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng theo các Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 và Quyết định số 30/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ; đảm bảo việc xây dựng dự toán ngân sách, bố trí và sử dụng ngân sách thực sự tập trung, chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí, chống dàn trải, phân tán nhằm nâng cao chất lượng dự toán và hiệu quả ngân sách; không tổng hợp vào dự toán chi ngân sách nhà nước các khoản chi thường xuyên chưa rõ nhiệm vụ, các dự án đầu tư ngoài quy hoạch chưa được phê duyệt. Thực hiện đầy đủ chính sách tạo nguồn cải cách tiền lương.
Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT), các hiệp định thương mại song phương (BTA), tác động của việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); chính sách chế độ xuất nhập khẩu của nhà nước đối với những mặt hàng quan trọng; các yếu tố về tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhu cầu nhập khẩu trong nước để phục vụ sản xuất, tiêu dùng; sự biến động của thị trường giá cả trong và ngoài nước... tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu.
Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 8 Luật NSNN đảm bảo mức dư nợ huy động (kể cả số dự kiến huy động năm 2007) không vượt quá 30% (đối với thành phố Hà nội, Hồ Chí Minh là 100%) dự toán chi đầu tư XDCB của ngân sách cấp tỉnh của địa phương.
5. Về xây dựng dự toán ngân sách địa phương:
Năm 2007 là năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách địa phương mới theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, việc xây dựng dự toán thu, chi ngân sách địa phương, các địa phương phải bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của NSNN năm 2007 nêu trên và trên cơ sở nguồn lực theo định mức phân bổ ngân sách năm 2007, căn cứ các quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật để xây dựng dự toán ngân sách năm 2007 và thời kỳ 2007 - 2010; đảm bảo dự toán ngân sách địa phương năm 2007 được xây dựng phải thực hiện quy định của Luật NSNN về việc tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, giảm số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số nộp về ngân sách cấp trên so với thời kỳ ổn định trước.
Ngoài các quy định hướng dẫn chung về công tác lập dự toán ngân sách nhà nước, việc lập, xây dựng dự toán ngân sách địa phương cần chú ý một số nội dung chủ yếu sau:
5.1. Về xây dựng dự toán thu ngân sách trên địa bàn:
Căn cứ kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội, thu - chi ngân sách 5 năm 2001-2005 của địa phương, căn cứ mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 đã được Đại hội Đảng các cấp thông qua, khả năng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và ngân sách năm 2006, trên cơ sở dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế và nguồn thu năm 2007 đối với từng ngành, từng lĩnh vực, các cơ sở kinh tế của từng địa phương và những nguồn thu mới phát sinh trên địa bàn để tính đúng, tính đủ từng lĩnh vực thu, từng khoản thu theo chế độ; dự toán thu nội địa từ nguồn thu thuế và phí (không kể thu từ dầu thô) năm 2007 tăng tối thiểu 14 - 16% so với ước thực hiện năm 2006 trên cơ sở đánh giá thu ngân sách nhà nước năm 2006 tăng tối thiểu 5% so dự toán Thủ tướng Chính phủ giao (không kể thu từ dầu thô), dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng tối thiểu 8 - 9% so với ước thực hiện năm 2006.
5.2. Về xây dựng dự toán chi ngân sách địa phương:
Căn cứ dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu ngân sách địa phương hưởng 100% theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, mức chi cân đối ngân sách địa phương theo định mức, tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước năm 2007 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, số bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương năm 2007 (nếu có) và được ổn định trong thời kỳ ngân sách mới theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật. Trên cơ sở đó, căn cứ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2006 - 2010 và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, chế độ chính sách chi tiêu hiện hành và tình hình thực tế của từng địa phương, Sở Tài chính phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định định mức phân bổ ngân sách địa phương năm 2007 cho từng cấp chính quyền địa phương cấp dưới và đảm bảo ổn định số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên và tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Đồng thời, đảm bảo định mức phân bổ ngân sách địa phương đối với các nhiệm vụ chi quan trọng (lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, lĩnh vực khoa học công nghệ) không thấp hơn mức Quốc hội quyết định và Thủ tướng Chính phủ giao.
Ưu tiên kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư những dự án, công trình trọng điểm của địa phương (giao thông, thuỷ lợi, công trình phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công trình khắc phục hậu quả thiên tai...); chủ động bố trí ngân sách địa phương thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường lớp học, xoá phòng học 3 ca, phòng học tranh, tre, nứa, lá, đầu tư kiên cố hoá kênh mương và đường giao thông nông thôn; hạ tầng làng nghề, du lịch; thực hiện phát triển giống cây trồng, vật nuôi; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; xúc tiến thương mại, mở rộng và tìm kiếm thị trường xuất khẩu; chú trọng thực hiện nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, đấu tranh với các tệ nạn xã hội;…
Bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA hoặc hợp phần dự án ODA thực hiện trên địa bàn thuộc trách nhiệm của địa phương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các dự án theo quy định địa phương phải bố trí từ ngân sách địa phương. Chủ động tính toán bố trí trong dự toán chi XDCB nguồn để xử lý dứt điểm các khoản nợ XDCB, các khoản nợ huy động phải trả khi đến hạn.
Bố trí dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách địa phương tương ứng với số thu tiền sử dụng đất để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Bố trí chi đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của địa phương từ nguồn thu tiền sử dụng đất gồm cả nguồn thu sử dụng đất kết chuyển năm trước sang năm sau (nếu có) theo đúng chế độ quy định để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các dự án di dân, tái định cư, chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
Đối với nguồn thu từ xổ số kiến thiết, năm ngân sách 2007 thực hiện cơ chế ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương tương ứng với dự toán nguồn thu xổ số kiến thiết và được ổn định cho cả thời kỳ 2007 - 2010 để đầu tư kết cấu hạ tầng phúc lợi xã hội, trong đó chủ yếu tập trung cho các lĩnh vực giáo dục, y tế.
Xây dựng phương án huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương, bố trí ngân sách địa phương đảm bảo hoàn trả đủ các khoản đến hạn (cả gốc và lãi) phải trả theo đúng quy định tại Khoản 3
Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước.
Bố trí kinh phí thực hiện các Nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của Quốc hội về giáo dục, Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) đối với lĩnh vực khoa học công nghệ, Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường thuộc nhiệm vụ chi ngân sách địa phương.
Bố trí dự phòng ngân sách địa phương, bổ sung quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, để chủ động ứng phó với thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh và xử lý những nhiệm vụ cấp bách ở địa phương.
Đối với các nhiệm vụ đầu tư hạ tầng theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001, Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày 07/12/2001, Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11/06/2003, Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/07/2004 của Thủ tướng Chính phủ,... căn cứ mục tiêu nhiệm vụ và nhu cầu nguồn vốn đầu tư đã quy định; căn cứ kết quả đã đầu tư, giai đoạn 2001 - 2005, khả năng thực hiện năm 2006, các địa phương xây dựng, tính toán nhiệm vụ năm 2007, trong đó chủ động bố trí, sắp xếp ngân sách địa phương và các nguồn tài chính theo chế độ quy định để thực hiện các nhiệm vụ trên, dự kiến mức đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ kèm theo thuyết minh các căn cứ tính toán.
Xây dựng dự toán chi ngân sách năm 2007, các địa phương chủ động tính toán các nguồn để thực hiện chi cải cách tiền lương theo quy định tại điểm 3.4, mục II, phần B nêu trên.
C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Các Bộ, cơ quan nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, có trách nhiệm xây dựng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực phụ trách và thông báo kịp thời cho Bộ Tài chính, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương trước ngày 01/07/2006 để làm cơ sở cho việc lập dự toán ngân sách nhà nước năm 2007.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán năm 2007 về chi đầu tư phát triển, phương án phân bổ chi đầu tư phát triển một số lĩnh vực của ngân sách trung ương được phân công gửi Bộ Tài chính trước ngày 10/09/2006.
3. Các Bộ, cơ quan Trung ương quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135 (giai đoạn II) và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương liên quan tổ chức xây dựng nội dung chương trình cho thời kỳ 2007 - 2010 và dự kiến nhiệm vụ, mức kinh phí thực hiện chương trình năm 2007 và thời kỳ 2007 - 2010 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 07 năm 2006; lập phương án phân bổ dự toán chi năm 2007 đối với từng Bộ, cơ quan Trung ương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước 30/07/2006. Đồng thời chủ động xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thuộc thẩm quyền hoàn thành trong năm 2006 làm căn cứ tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án đúng quy định.
4. Các Bộ, cơ quan Trung ương và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Thông tư này và số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2007 do Bộ Tài chính thông báo, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách cho các đơn vị dự toán trực thuộc và ngân sách cấp dưới theo quy định.
Các Bộ, các ngành, địa phương căn cứ tình hình thực hiện thu, chi ngân sách giai đoạn 2001 - 2005 và năm 2006, kế hoạch nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 và năm 2007, triển khai lập dự toán ngân sách năm 2007 và kế hoạch thu, chi NSNN giai đoạn 2007 - 2010 của toàn ngành, lĩnh vực Bộ, địa phương được phân công quản lý (bao gồm chi đầu tư phát triển, từng lĩnh vực chi thường xuyên; dự toán thực hiện
Chương trình mục tiêu được giao trực tiếp quản lý) gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.