THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn
Căn cứ Nghị định số 55/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công nghiệp
Căn cứ Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn; Để tạo thuận lợi cho việc triển khai và quản lý các hoạt động khuyến công, Bộ Công nghiệp hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 134/2004/NĐ-CP như sau:
Phần I
Điều 15 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP.
3. Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a) Đề án khuyến công là đề án được lập để triển khai một hoặc một số nội dung hoạt động khuyến công quy định tại
Điều 3 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP. Đề án khuyến công có mục tiêu và đối tượng thụ hưởng cụ thể, có thời gian thực hiện và kinh phí xác định.
Đề án khuyến công quốc gia là đề an khuyến công do Cục Công nghiệp địa phương thuộc Bộ Công nghiệp (đối với trường hợp sử dụng kinh phí khuyến công do Bộ Công nghiệp trực tiếp quản lý) hoặc do Sở Công nghiệp (đối với trường hợp sử dụng kinh phí ngân sách Trung ương hỗ trợ hoạt động khuyến công địa phương) quản lý, tổ chức thực hiện để triển khai các hoạt động khuyến công quốc gia theo chương trình do Thủ tướng Chính phủ, kế hoạch do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt.
Đề án khuyến công địa phương là đề án khuyến công do Sở Công nghiệp quản lý, tổ chức thực hiện từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương để triển khai các hoạt động khuyến công của địa phương theo chương trình, kế hoạch được Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
b) Tổ chức dịch vụ khuyến công được các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật (Trung tâm khuyến công, cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp...), là tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công như tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác có liên quan đến đầu tư sản xuất công nghiệp nông thôn.
Phần II
Điều 3 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP được thực hiện thông qua các đề án khuyến công, được lập trên cơ sở chương trình, kế hoạch khuyến công đã được phê duyệt.
2. Tùy thuộc vào nội dung hoạt động khuyến công, đề án khuyến công được lập và thực hiện dưới các hình thức sau:
a) Tổ chức các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề.
b) Tổ chức các điểm tư vấn hoặc tiến hành tư vấn trực tiếp tại cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn.
c) Trực tiếp hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lập dự án khởi sự doanh nghiệp, đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư sản xuất sản phẩm mới, đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
d) Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ có kèm theo đào tạo cho cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn.
đ) Xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới và nhân rộng các mô hình tốt đã có.
e) Tổ chức, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; tham quan khảo sát, học tập - trao đổi kinh nghiệm, liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế và tham gia các hiệp hội ngành nghề.
g) Hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh.
h) Các hình thức khuyến công khác phù hợp với các hoạt động quy định định tại
Điều 3 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP.
3. Theo quy mô, tính chất của đề án khuyến công, năng lực của đơn vị thực hiện, Bộ Công nghiệp (đối với đề án khuyến công quốc gia), UBND cấp tỉnh (đối với đề án khuyến công địa phương) phê duyệt chọn một trong các phương thức thực hiện sau:
a) Cục Công nghiệp địa phương, Sở Công nghiệp trực tiếp thực hiện;
b) Cục Công nghiệp địa phương, Sở Công nghiệp ký hợp đồng với tổ chức dịch vụ khuyến công để thực hiện;
c) Cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tự thực hiện (hỗ trợ kinh phí khuyến công trực tiếp).
Phương thức thực hiện đề án được thể hiện trong kế hoạch khuyến công hàng năm.
4. Các hoạt động khuyến công địa phương cần tập trung phục vụ cho việc triển khai thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp của địa phương, trong đó đặc biệt ưu tiên việc hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy-hải sản, công nghiệp cơ khí - hóa chất phục vụ nông nghiệp - nông thôn, công nghiệp hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp; phát triển các sản phẩm có thị trường, có thể tạo nhiều việc làm và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao cho địa phương.
II. MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH KHUYẾN CÔNG
Cở sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư vào những ngành, nghề quy định tại Khoản 1
Điều 6 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP và hướng dẫn của Liên Bộ Công nghiệp - Tài chính tại
Mục 2
Phần II Thông tư liên tịch số 36/2005/TTLT-BTC-BCN ngày 16/5/2005 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiêp kinh tế đối với hoạt động khuyến công, được hưởng các chính sách khuyến công cụ thể như sau:
Chương trình kỹ thuật - kinh tế về tự động hóa, về công nghệ vật liệu và tiết kiệm năng lượng do Bộ Công nghiệp quản lý hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư (bao gồm cả đầu tư mới và đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ) nếu dự án đáp ứng các điều kiện, tiêu chí của
Chương trình.
Chương trình phối hợp với Cục Công nghiệp địa phương hướng dẫn cụ thể trình tự lập, đăng ký, thẩm định dự án đầu tư có sử dụng vốn hỗ trợ của các
Chương trình để các Sở Công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn thực hiện.
Điều 11, 12 và 14 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP.
III. XÂY DỰNG
CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH KHUYẾN CÔNG
Chương trình khuyến công là một tập hợp các nhiệm vụ, đề án khuyến công có trọng tâm, với tiến độ và giải pháp thực hiện cụ thể, được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp nông thôn trong từng kỳ kế hoạch 5 năm về phát triển kinh tế - xã hội.
Chương trình khuyến công được cụ thể hóa bằng kế hoạch khuyến công hàng năm.
Phần III
Điều 15 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP.
2. Sở Công nghiệp là cơ quan giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động khuyến công và kinh phí khuyến công tại địa phương theo quy định tại Khoản 4
Điều 15 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, Thông tư số 02/2003/TTLT-BCN-BNV ngày 29/10/2003 của Liên Bộ Công nghiệp - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp ủy ban Nhân dân quản lý nhà nước về công nghiệp ở địa phương và Thông tư liên tịch số 36/2005/TTLT-BTC-BCN ngày 16/5/2005 của Bộ Tài chính và Bộ Công nghiệp hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công.
Để đạt các mục tiêu của hoạt động khuyến công theo
Điều 1 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh ngoài trách nhiệm bảo đảm nguồn vốn của kinh phí khuyến công địa phương quy định tại điểm d khoản 4
Điều 15 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, có trách nhiệm cân đối, bổ sung biên chế quản lý phù hợp cho công tác khuyến công.
3. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc các đơn vị liên quan cần phản ánh về Bộ Công nghiệp để kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù hợp./.