THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Căn cứ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/11/1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 9/6/2000
Căn cứ các Luật, Pháp lệnh thuế hiện hành của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; căn cứ các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các Luật, Pháp lệnh thuế;
Căn cứ Nghị định số 24/2000/NĐ - CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam;
Căn cứ Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
Căn cứ Nghị định 62/CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ ban hành Quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao- kinh doanh, Hợp đồng xây dựng chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt nam, Nghị định số 02/1999/NĐ-CP ngày 27/1/1999 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/CP; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như sau:
Phần thứ nhất:
Phần thứ hai:
Điều 55 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
Riêng đối với bên nước ngoài hợp doanh được chuyển số lỗ phát sinh từ năm tài chính 2000 sang các năm tiếp theo đối với từng Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đối với bên nước ngoài hợp doanh áp dụng năm tài chính không phải là năm dương lịch, nếu năm tài chính 1999-2000 kết thúc trước ngày 1/7/2000 lại phát sinh lỗ thì số lỗ của năm tài chính 1999-2000 này không thuộc diện được chuyển lỗ sang các năm tiếp theo.
Việc chuyển lỗ được thực hiện theo kế hoạch của doanh nghiệp. Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, trong phạm vi 15 ngày kể từ khi lập báo cáo quyết toán thuế và xác định được số lỗ phát sinh của năm tài chính đó, doanh nghiệp chủ động đăng ký với cơ quan thuế kế hoạch chuyển lỗ của năm tài chính đó để trừ vào thu nhập chịu thuế của các năm tiếp theo (trong phạm vi 5 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ) và thực hiện đúng thời gian chuyển lỗ đã đăng ký.
Ví dụ: năm 2000 doanh nghiệp A phát sinh lỗ 500.000 USD. Theo dự kiến kể từ năm 2001 doanh nghiệp A bắt đầu có lãi 150.000 USD, 2002 lãi 200.000 USD, 2003 lãi 300.000 USD, 2004 lãi 400.000 USD và năm 2005 lãi 550.000 USD. Theo quy định tại Giấy phép đầu tư, doanh nghiệp A được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm.
Như vậy, theo quy định tại
Điều 48, Nghị định 24/2000/NĐ-CP, doanh nghiệp A được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm 2001 và 2002 (năm 2001 là năm đầu tiên kinh doanh có lãi ). Doanh nghiệp A có thể lựa chọn phương án chuyển lỗ năm 2000 sang các năm từ 2003 đến 2005 để được hưởng trọn vẹn 2 năm miễn thuế. Việc chuyển lỗ sang năm nào do doanh nghiệp A tự quyết định và đăng ký (có thể chuyển toàn bộ số lỗ của năm 2000 sang năm 2005 hoặc chia đều số lỗ của năm 2000 sang 3 năm từ năm 2003 đến năm 2005).
a) Doanh thu tính thu nhập chịu thuế trong năm tính thuế:
Doanh thu tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung cấp dịch vụ (không có thuế giá trị gia tăng) và các khoản thu khác của doanh nghiệp trong năm tính thuế.
Một số trường hợp cụ thể, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là doanh thu của hàng hóa bán tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm.
Đối với hoạt động cho thuê tài sản như cho thuê nhà, cho thuê văn phòng, kinh doanh cho thuê cơ sở hạ tầng, là số tiền thuê phải thu từng kỳ theo hợp đồng thuê. Trường hợp có thu tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu tính thu nhập chịu thuế từng năm được xác định bằng số tiền thuê thu trước chia đều cho số năm thu trước.
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng.
Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó.
Đối với hoạt động gia công hàng hóa, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa.
Đối với hoạt động tín dụng là lãi tiền cho vay phải thu trong năm tính thuế.
Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là số tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc, phí đại lý giám định, phí nhận tái bảo hiểm, thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác.
Đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo hình thức chia sản phẩm thì khoản thu về tiêu thụ sản phẩm được tính như sau:
+ Sản phẩm được chia nếu tiêu thụ tại thị trường Việt Nam thì các khoản thu được xác định trên giá bán sản phẩm tại thị trường Việt Nam.
+ Sản phẩm được chia xuất khẩu ra nước ngoài thì các khoản thu được xác định trên cơ sở giá xuất FOB tại các cửa khẩu Việt Nam.
Khi xác định nghĩa vụ thuế của Bên nước ngoài hợp doanh, trường hợp các bên hợp doanh không cung cấp được giá tiêu thụ sản phẩm hoặc việc tiêu thụ sản phẩm không được thực hiện theo nguyên tắc giao dịch mua bán theo giá thị trường, thì doanh thu được xác định theo các nguyên tắc quy định tại
Mục IV,
Phần thứ ba của Thông tư này.
Điều 46 và
Điều 48 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ thì doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi. Cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp căn cứ vào các điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp thực tế đạt được hàng năm để xác định mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi và thực hiện quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất đó, đồng thời báo cáo với Bộ Tài chính và cơ quan cấp giấy phép đầu tư biết.
Đối với các doanh nghiệp được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 1/8/2000 nếu đáp ứng được các điều kiện hưởng ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại
Điều 46 và
Điều 48 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ, các doanh nghiệp có văn bản đề nghị cơ quan cấp giấy phép đầu tư điều chỉnh Giấy phép đầu tư. Các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại kể từ khi giấy phép điều chỉnh có hiệu lực.
5. Thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:
a) Đăng ký thuế thu nhập doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp có trách nhiệm đăng ký thuế thu nhập doanh nghiệp cùng với việc đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp. Doanh nghiệp đăng ký nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại cơ quan thuế địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính.
b) Kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp:
Chậm nhất vào ngày 25 tháng đầu tiên của năm tài chính hàng năm, doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai và nộp tờ khai thuế tạm nộp cả năm ( theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này ) cho cơ quan thuế địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Căn cứ để kê khai là kết quả sản xuất, kinh doanh của năm tài chính trước và khả năng kinh doanh của năm tiếp theo.
Sau khi nhận được tờ khai, cơ quan thuế kiểm tra, xác định số thuế tạm nộp cả năm và chia ra từng quý để thông báo cho doanh nghiệp về số thuế tạm nộp. Trường hợp doanh nghiệp không kê khai hoặc kê khai không rõ căn cứ để xác định số thuế tạm nộp cả năm thì cơ quan thuế có quyền ấn định số thuế tạm nộp.
Trường hợp trong năm có biến động lớn về thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế điều chỉnh số thuế tạm nộp. Việc điều chỉnh được thực hiện theo đề nghị của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp lập báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm.
c) Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 3 tháng một kỳ bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm tính thuế. Việc tạm nộp thuế được thực hiện theo thông báo nộp thuế của cơ quan thuế và chậm nhất không quá ngày cuối quý. Kết thúc năm tính thuế hoặc kết thúc hợp đồng thì quyết toán theo thực tế.
Đối với các hợp đồng hợp tác kinh doanh có thời hạn dưới một năm thì thuế thu nhập doanh nghiệp được nộp thành 2 kỳ, kỳ thứ nhất tạm nộp vào giữa thời hạn của hợp đồng, hết hạn hợp đồng sẽ quyết toán theo thực tế.
d) Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp:
Việc quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp được tiến hành hàng năm theo quy định tại
Phần thứ ba Thông tư này.
Điều 51 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ.
Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư vào các dự án được cấp giấy phép đầu tư trước ngày 23/11/1996 thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn lại như sau:
100% nếu đầu tư vào các dự án áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đến 14%.
75% nếu đầu tư vào các dự án áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 15% đến 20%.
50% nếu đầu tư vào các dự án áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 21% đến dưới 25%.
b) Số thuế thu nhập doanh nghiệp hoàn trả cho phần lợi nhuận tái đầu tư được xác định như sau :
T =
L
x
S x t
100%-S
Trong đó:
T: là số thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn trả.
L: Là số lợi nhuận sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sử dụng để tái đầu tư.
S: Là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã áp dụng để tính thuế đối với số lợi nhuận sử dụng để tái đầu tư.
t: Là tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn trả.
c) Thủ tục hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp tái đầu tư:
Để nhận được số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài hoặc người được uỷ quyền phải xuất trình đầy đủ các chứng từ sau đây với Cục thuế địa phương nơi đặt trụ sở điều hành chính của doanh nghiệp có số lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư:
Công văn hoặc đơn đề nghị hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp do tái đầu tư trình bày rõ lý do tái đầu tư và cam kết về sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư từ 3 năm trở lên của nhà đầu tư nước ngoài.
Tờ khai hoàn thuế thu nhập tái đầu tư ( theo Phụ lục số 2 ban hành kèm theo Thông tư này ).
Giấy phép đầu tư hoặc giấy phép điều chỉnh hoặc văn bản chấp thuận do cơ quan cấp giấy phép đầu tư cấp (bản sao có đóng dấu xác nhận của doanh nghiệp), trong đó quy định rõ cho phép chủ đầu tư dùng lợi nhuận để tái đầu tư.
Văn bản xác nhận bên nước ngoài đã góp đủ vốn pháp định của Hội đồng quản trị đối với các doanh nghiệp liên doanh, cam kết của Nhà đầu tư nước ngoài đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh về việc đã góp đủ vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh (kèm theo xác nhận của cơ quan kiểm toán).
Các chứng từ đã nộp thuế của doanh nghiệp (bản sao có đóng dấu xác nhận của doanh nghiệp), và xác nhận của Kho bạc Nhà nước về số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp.
Khi đã nhận đủ các chứng từ nêu trên, trong vòng 15 ngày làm việc, Cục thuế tiến hành kiểm tra, xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của doanh nghiệp và tính số thuế thu nhập doanh nghiệp hoàn trả cho nhà đầu tư nước ngoài, gửi hồ sơ về Bộ Tài chính (Tổng cục thuế). Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Bộ Tài chính xem xét, ra quyết định hoàn thuế cho nhà đầu tư.
Lợi nhuận mà các nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển ra nước ngoài hoặc đã sử dụng cho các mục đích đầu tư, kinh doanh khác, nay thu hồi để tái đầu tư sẽ không được hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp do tái đầu tư.
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đã được hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng không thực hiện tái đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài phải nộp trả ngân sách phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã được hoàn kể cả lãi tính từ khi nhà đầu tư nhận được số tiền thuế được hoàn tới khi nhà đầu tư hoàn trả đủ cho Ngân sách số tiền thuế được hoàn kể trên (tính theo lãi suất tiền gửi Ngân hàng) và bị xử lý theo pháp luật.
II/ THUẾ CHUYỂN LỢI NHUẬN RA NƯỚC NGOÀI
1. Đối tượng chịu thuế:
Lợi nhuận mà các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài thu được do tham gia đầu tư vốn dưới bất cứ hình thức nào quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (bao gồm cả số thuế thu nhập được hoàn trả cho số thu nhập tái đầu tư và thu nhập thu được do chuyển nhượng vốn) khi chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc giữ lại ngoài Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
Trường hợp bên nước ngoài sử dụng lợi nhuận được chia để thanh toán công nợ cho Công ty mẹ, hoặc sử dụng lợi nhuận được chia để chi tiêu cho Văn phòng đại diện của Công ty mẹ tại Việt Nam, đều coi là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và bên nước ngoài phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nưóc ngoài.
Tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài có lợi nhuận chuyển ra nước ngoài phải kê khai và nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
2. Xác định số thuế phải nộp:
Số thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài phải nộp được xác định bằng số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài hoặc được coi là chuyển ra nước ngoài, hoặc số lợi nhuận mà nhà đầu tư giữ lại ngoài lãnh thổ Việt Nam nhân (x) thuế suất thuế chuyển lợi nhuận quy định tại Giấy phép đầu tư. Trường hợp, giấy phép đầu tư được cấp không quy định thì thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thực hiện theo quy định tại
Điều 50 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ.
Đối với các trường hợp được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 1/8/2000 có mức thuế suất thuế chuyển lợi nhuận cao hơn mức thuế chuyển lợi nhuận quy định tại
Điều 50 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ, các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp làm đơn gửi cơ quan cấp giấy phép đầu tư để được điều chỉnh giâý phép đầu tư. Trong khi chưa có điều chỉnh chính thức, nếu các nhà đầu tư thực hiện việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, các nhà đầu tư làm đơn gửi Cục thuế địa phương trình bày rõ điều kiện được hưởng thuế suất mới và kê khai, nộp thuế theo thuế suất mới. Thuế suất thuế chuyển lợi nhuận mới được áp dụng cho các khoản lợi nhuận các nhà đầu tư làm thủ tục chuyển ra nước ngoài kể từ ngày 1/7/2000.
3.Thủ tục nộp thuế:
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thu theo từng lần chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Riêng trường hợp các nhà đầu tư giữ lại lợi nhuận ở ngoài Việt Nam hoặc thanh toán cho công ty mẹ, chi tiêu cho Văn phòng Công ty mẹ tại Việt nam thực hiện việc kê khai, thu nộp hàng tháng.
Trước khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc chậm nhất vào ngày 5 tháng sau đối với trường hợp sử dụng lợi nhuận vào các mục đích coi như chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, giữ lại lợi nhuận ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài phải lập tờ khai thuế nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp mà tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài đó đầu tư vốn (theo Phụ lục số 3 ban hành kèm theo Thông tư này), đồng thời nộp số thuế theo kê khai vào Kho bạc Nhà nước.
Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được tờ khai, cơ quan thuế kiểm tra nếu phát hiện có sự sai sót trong tờ khai thuế thì thực hiện phát hành thông báo số thuế phải nộp cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm nộp bổ sung số thuế còn thiếu vào Kho bạc Nhà nước theo thông báo của cơ quan thuế. Trường hợp quá thời hạn quy định nộp tờ khai mà nhà đầu tư không nộp tờ khai thuế, cơ quan thuế có quyền ấn định số thuế tạm nộp và phát hành thông báo thuế và xử lý phạt chậm kê khai.
Kho bạc Nhà nước giao lại cho người nộp thuế 1 liên chứng từ nộp thuế chuyển lợi nhuận để làm thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài.
Hàng năm, chậm nhất 90 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính, các nhà đầu tư nước ngoài phải báo cáo cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp về số lợi nhuận được chia, tình hình sử dụng lợi nhuận và nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đối với số lợi nhuận của các năm trước. Báo cáo này được nộp cho cơ quan thuế cùng với báo cáo quyết toán thuế hàng năm của doanh nghiệp.
Trường hợp tại tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm đã nộp cho cơ quan thuế (theo quy định tại điểm 5b,
Mục I, phần thứ hai của Thông tư này), dự kiến doanh nghiệp có lợi nhuận và các nhà đầu tư thống nhất phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp từng quý hoặc 6 tháng (có Quyết nghị bằng văn bản của Hội đồng quản trị doanh nghiệp), thì các nhà đầu tư nước ngoài có thể được tạm chuyển ra nước ngoài theo từng kỳ, ngay trong năm, số lợi nhuận được chia phát sinh trong năm tài chính và phải kê khai nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài mỗi lần chuyển tiền. Số lợi nhuận được chia tạm chuyển ra nước ngoài tối đa không được vượt quá 70% số lợi nhuận nhà đầu tư nước ngoài có thể được chia, xác định trên cơ sở báo cáo tài chính từng quý, 6 tháng và cả năm của doanh nghiệp.
Điều 8 Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ.
Các doanh nghiệp bán hàng cho các doanh nghiệp chế xuất chỉ cần lập tờ khai hàng hoá xuất khẩu gửi Hải quan Khu chế xuất khi bán hàng hoá cho các doanh nghiệp chế xuất. Cơ quan Hải quan đóng dấu "hàng miễn thuế" vào tờ khai hàng hoá xuất khẩu sau khi kiểm hoá.
b) Thuế nhập khẩu:
Ngoài các trường hợp được miễn giảm thuế quy định tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh còn được miễn, giảm thuế theo
Điều 57 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ.
Căn cứ vào Giấy phép đầu tư, giải trình kinh tế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật của từng dự án, danh mục vật tư xây dựng trong nước đã sản xuất được do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, Bộ Thương mại hoặc cơ quan được uỷ quyền xét duyệt danh mục mặt hàng nhập khẩu miễn thuế cho từng doanh nghiệp.
Căn cứ danh mục mặt hàng nhập khẩu miễn thuế được duyệt, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo dõi việc nhập khẩu của các doanh nghiệp. Định kỳ hàng quý các Cục Hải quan phải tập hợp báo cáo về Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan kim ngạch xuất, nhập khẩu và số lượng các mặt hàng xuất, nhập khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Riêng thủ tục miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất của các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử, các dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư được thực hiện theo Thông tư số 40/2000/TT-BTC ngày15/5/2000 và Thông tư số 117/2000/TT-BTC ngày 21/12/2000 của Bộ Tài chính.
Các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu được tạm chưa nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu trong thời hạn 9 tháng (tính tròn là 275 ngày theo dương lịch) kể từ ngày doanh nghiệp nhận được thông báo thuế chính thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp. Đối với một số sản phẩm do yêu cầu sản xuất hoặc do chu kỳ sản xuất, thì thời gian tạm chưa nộp thuế nhập khẩu có thể dài hơn 9 tháng.
Điều kiện và thủ tục để được tạm chưa phải nộp thuế nhập khẩu, xác định thời hạn tạm chưa phải nộp dài hơn 9 tháng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 172/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Trường hợp doanh nghiệp bán sản phẩm của mình sản xuất cho các doanh nghiệp khác để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu tương ứng với số sản phẩm này theo quy định tại
Điều 58 của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ. Việc miễn thuế nhập khẩu thực hiện như sau:
Khi nhập khẩu vật tư, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp khác để sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp phải nộp đủ thuế nhập khẩu theo quy định. Sau khi doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu làm thủ tục gửi Bộ Tài chính đề nghị hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Thủ tục đề nghị hoàn thuế bao gồm:
Công văn đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp trong đó có tính toán và ghi rõ số tiền thuế nhập khẩu nguyên liệu được hoàn;
Định mức tiêu hao vật tư, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm;
Tờ khai Hải quan nhập khẩu và biên lai nộp thuế nhập khẩu của vật tư, nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm;
Hợp đồng bán sản phẩm của doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác trong đó ghi rõ sản phẩm đó được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu;
Hoá đơn bán hàng của doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác sản xuất hàng xuất khẩu;
Tờ khai Hải quan xuất hàng của doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã được Hải quan cửa khẩu xác nhận hàng đã thực xuất khẩu (bản sao công chứng);
Bản kê khai của doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu về số lượng, giá trị bán thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất đã được sử dụng để sản xuất hàng hoá đã xuất khẩu. Giám đốc doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu phải chịu trách nhiệm về bản kê khai này.
Căn cứ các hồ sơ nêu trên, Bộ Tài chính sẽ ra quyết định hoàn thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu.
2. Kê khai và truy thu thuế xuất, nhập khẩu:
Trường hợp doanh nghiệp chế xuất mua hàng hoá, vật tư, nguyên liệu từ thị trường nội địa không đưa vào sản xuất, gia công mà xuất khẩu ra nước ngoài phải nộp thuế xuất khẩu theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành.
Hàng hoá nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên nước ngoài hợp doanh đã được miễn thuế nhập khẩu trong các trường hợp nói trên, nếu sử dụng vào mục đích khác với mục đích được miễn thuế nhập khẩu, hoặc nhượng bán tại thị trường Việt Nam thì phải được Bộ Thương mại cho phép và phải truy nộp laị số thuế nhập khẩu đã được miễn.
Đối với hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 28/10/1995, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 05/1998/QH10 ngày 20/5/1998, đã nhập khẩu khi các Luật này chưa có hiệu lực và đã được miễn thuế nhập khẩu, nhưng khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ban đầu, hoặc nhượng bán tại thị trường Việt Nam vào thời điểm Luật thuế tiêu thụ đặc biệt có hiệu lực thì ngoài việc phải truy nộp thuế nhập khẩu (theo thuế suất hiện hành tại thời điểm truy nộp) các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên nước ngoài hợp doanh phải nộp cả thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày sử dụng vào mục đích khác với mục đích được miễn thuế nhập khẩu, hoặc nhượng bán hàng hoá, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên hợp doanh có trách nhiệm phải khai báo vơí cơ quan Hải quan tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở điều hành chính của doanh nghiệp, hoặc khai báo với cơ quan Hải quan nơi nhượng bán hàng hoá, hoặc khai báo với cơ quan Hải quan nơi doanh nghiệp đăng ký tờ khai nhập khẩu hàng hoá (theo Phụ lục số 4 ban hành kèm theo Thông tư này). Quá thời hạn trên mà không khai báo thì doanh nghiệp hoặc các bên hợp doanh sẽ bị xử phạt về hành vi trốn lậu thuế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng thuộc các ngành cơ khí, điện, điện tử, các dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư phải kê
khai, quyết toán thuế nhập khẩu đã được miễn đối với nguyên vật liệu phục vụ sản xuất theo Thông tư số 40/2000/TT-BTC ngày15/5/2000 của Bộ Tài chính.
Đối với doanh nghiệp thuộc diện đặc biệt khuyến khích đầu tư theo tiêu chuẩn xuất khẩu trên 80% sản phẩm và đang được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu nhập khẩu 5 năm theo
Điều 57 của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP, trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, thì chỉ những sản phẩm nào thực sự đạt tỷ lệ xuất khẩu trên 80% mới được hưởng ưu đãi miễn thuế nhập khẩu trên đây. Đối với các sản phẩm xuất khẩu không đạt tỷ lệ trên 80% thì doanh nghiệp chỉ được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu cho phần sản phẩm thực xuất khẩu và doanh nghiệp phải truy nộp số thuế nhập khẩu đã được tạm miễn đối với phần sản phẩm tiêu thụ tại Việt nam.
Đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nhưng có các cơ sở sản xuất tại địa phương khác không thuộc danh mục các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì chỉ được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu theo
Điều 57 Nghị định 24/2000/NĐ-CP đối với số nguyên liệu nhập khẩu sử dụng cho sản xuất tại cơ sở sản xuất đặt tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trong quá trình quản lý thu thuế các doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý thu thuế có trách nhiệm giám sát việc sử dụng hàng hoá xuất nhập khẩu được miễn thuế, khi phát hiện các trường hợp nhượng bán hàng hoá đã được miễn thuế thì ngoài việc thu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Luật thuế giá trị gia tăng, Cục trưởng cục thuế tỉnh, thành phố được quyền ra quyết định truy thu thuế nhập khẩu và xử phạt theo các quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
IV. THUẾ ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN
Các chủ đầu tư nước ngoài chuyển nhượng phần vốn góp của mình trong doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh có thu nhập phải thực hiện nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn theo quy định tại Thông tư này.
1. Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thu nhập thu được từ chuyển nhượng vốn là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
=
Thu nhập chịu thuế
x
Thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp
1.1. Thu nhập chịu thuế:
Thu nhập chịu thuế
=
Giá
chuyển nhượng
Giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng
Chi phí
chuyển nhượng
Trong đó:
+ Giá chuyển nhượng được xác định là tổng giá trị thực tế mà bên chuyển nhượng thu được theo hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán hoặc cơ quan thuế có cơ sở để xác định giá thanh toán đã không được xác định theo giá thị trường, cơ quan thuế có quyền kiểm tra và ấn định giá trị thanh toán của hợp đồng trên cơ sở tham khảo giá thị trường hoặc giá có thể bán cho bên thứ ba và các hợp đồng chuyển nhượng tương tự.
+ Giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng được xác định trên cơ sở sổ sách, chứng từ kế toán về vốn góp của chủ đầu tư tại thời điểm chuyển nhượng vốn đã được hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh công nhận đối với doanh nghiệp liên doanh, hoặc kết quả kiểm toán của cơ quan kiểm toán đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc các bên tham gia hợp doanh công nhận phù hợp với Luật pháp hiện hành của Việt Nam.
Trường hợp các chủ đầu tư sau tiếp tục chuyển nhượng lại phần vốn góp của mình, giá trị ban đầu của phần vốn đem chuyển nhượng từng lần sau đó được xác định bằng giá trị chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng ngay trước đó cộng với giá trị thực tế vốn góp bổ sung thêm (nếu có) xác định theo nguyên tắc nêu tại khoản này.
+ Chi phí chuyển nhượng là các khoản chi thực tế liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng, theo chứng từ gốc được cơ quan thuế công nhận. Trường hợp chi phí chuyển nhượng phát sinh ở nước ngoài thì các chứng từ gốc đó phải được một cơ quan công chứng hoặc kiểm toán độc lập của nước có chi phí phát sinh xác nhận.
Chi phí chuyển nhượng bao gồm: chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyển nhượng; các khoản phí và lệ phí phải nộp khi làm thủ tục chuyển nhượng; các chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các chi phí khác, có chứng từ chứng minh.
1.2. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn là 25%.
2. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:
Nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận từ chuyển nhượng vốn, sau khi đã nộp thuế thu nhập chuyển nhượng vốn theo hướng dẫn tại điểm 1 trên đây, khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc giữ lại lợi nhuận tại nước ngoài, phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Mức thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định tại Giấy phép đầu tư.
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chưa góp đủ vốn pháp định theo Giấy phép nhưng không tiếp tục đầu tư và chuyển nhượng vốn, có lợi nhuận từ chuyển nhượng vốn. Khi chuyển số lợi nhuận thu được từ chuyển nhượng vốn ra nước ngoài phải xác định mức thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo mức vốn pháp định thực tế đã góp tại thời điểm chuyển nhượng phù hợp với quy định tại
Điều 50 của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP.
3. Kê khai, nộp thuế:
3.1. Kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn:
Bên nhận chuyển nhượng vốn có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế phải nộp của bên chuyển nhượng và nộp vào NSNN.
Chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền chuẩn y việc chuyển nhượng vốn, bên nhận chuyển nhượng vốn phải lập tờ khai thuế về chuyển nhượng vốn nộp cho cơ quan thuế địa phương nơi quản lý doanh nghiệp ( theo Phụ lục số 5 ban hành kèm theo Thông tư này ) kèm theo hợp đồng chuyển nhượng, quyết định chuẩn y việc chuyển nhượng vốn của cơ quan có thẩm quyền, chứng nhận vốn góp và các chứng từ gốc của các khoản chi phí; đồng thời nộp đủ số thuế phải nộp Kho bạc Nhà nước và gửi bản sao giấy nộp tiền thuế cho cơ quan chuẩn y việc chuyển nhượng vốn.
Trường hợp phát hiện việc kê khai, tính toán số thuế phải nộp chưa chính xác, trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được tờ khai, cơ quan thuế phải thông báo số thuế phải nộp cho người nộp thuế hoặc yêu cầu người nộp thuế cung cấp các tài liệu cần thiết để xác định chính xác số thuế phải nộp.
3.2. Kê khai nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: theo hướng dẫn tại điểm 3,
Mục II,
Phần này.
Phần thứ ba:
Điều 46, 47, 48 và 49 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP để xác định số thuế phải nộp của doanh nghiệp, thông báo thuế theo quy định gửi ban thanh lý doanh nghiệp và cơ quan cấp giấy phép đầu tư.
Xác định các khoản lãi hoặc lỗ và quyền lợi, trách nhiệm của các chủ đầu tư liên quan đến số lãi hoặc lỗ đó. Xác nhận khoản thu nhập mà các chủ đầu tư nước ngoài được hưởng có thể chuyển ra nước ngoài. Số thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài này sẽ được thu ngay cho Ngân sách nhà nước trừ trường hợp các chủ đầu tư nước ngoài xuất trình các chứng từ chứng minh được số thu nhập đó không chuyển ra nước ngoài vì một trong các lý do sau:
+ Sử dụng để tái đầu tư tại Việt Nam theo Quyết định của cơ quan cấp giấy phép đầu tư.
+ Sử dụng cho các nhu cầu chi tiêu của cá nhân tại Việt Nam ngoài các thu nhập khác đã khai báo.
+ Chi dùng tại Việt Nam cho các mục đích khác.
IV. BIỆN PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ THỊ TRƯỜNG TRONG QUAN HỆ GIAO DỊCH GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT
Để đảm bảo xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra báo cáo quyết toán thuế của doanh nghiệp, nếu phát hiện có các vấn đề bất hợp lý về giá hoặc tỷ suất thu nhập trong các giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp dưới đây để xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp:
1. Phương pháp so sánh giá thị trường:
Cơ quan thuế có thể sử dụng giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trên thị trường để ấn định cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trao đổi, buôn bán nội bộ giữa các doanh nghiệp liên kết. Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh giá thị trường:
(i) Không có sự khác nhau giữa 2 nghiệp vụ kinh doanh được so sánh ảnh hưởng đến giá giao dịch như chất lượng hàng hoá, nhãn hiệu hàng hoá, điều kiện giao hàng, quan hệ thanh toán.
(ii) Trường hợp có sự khác nhau trong việc so sánh 2 nghiệp vụ kinh doanh thì có thể sử dụng các biện pháp tính toán để loại trừ các nhân tố ảnh hưởng đến giá giao dịch.
Ví dụ: Một Công ty dầu nhờn của nước ngoài bán cho doanh nghiệp liên doanh A tại Việt nam (Doanh nghiệp A là doanh nghiệp liên doanh giữa Công ty dầu nhờn nước ngoài đó và một Công ty tại Việt Nam) 1.200 lít dầu nhờn với giá 1500 USD, trả tiền sau 6 tháng. Cũng thời gian đó, Công ty dầu nhờn nước ngoài đó bán cho doanh nghiệp B là doanh nghiệp độc lập tại Việt Nam 1000 lít dầu nhờn với giá là 1000 USD với điều kiện thanh toán ngay. Giả sử lãi suất tín dụng thương mại trên thị trường kỳ hạn 6 tháng là 5%. Khi xác định thu nhập của Xí nghiệp liên doanh A, cơ quan thuế Việt Nam có thể xác định lại giá dầu nhờn trong hợp đồng trên căn cứ vào giá so sánh theo hợp đồng của Công ty B như sau:
Đơn giá một lít dầu nhờn theo hình thức thanh toán sau 6 tháng:
1.000 USD + 1.000 USD x 5%
=
1.05 USD lít
1.000 lít dầu
Giá ấn định cho hợp đồng giữa Công ty liên doanh A và Công ty dầu nhờn nước ngoài là: 1.200 lít dầu x 1.05 USD/lít = 1.260 USD.
2. Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào:
Trường hợp đơn vị thương nghiệp có nguồn hàng hoá mua vào do một xí nghiệp liên kết ở nước ngoài cung cấp và không thể xác định được giá mua thực tế trên thị trường tự do, cơ quan thuế có thể sử dụng giá bán ra của đơn vị thương nghiệp để xác định giá mua vào theo công thức sau :
Giá mua = vào
Giá bán ra cho xí nghiệp độc lập
(trừ thuế nhập khẩu, nếu có)
Giá bán cho xí nghiệp độc lập
(trừ thuế nhập khẩu, nếu có)
x
Tỷ lệ lãi gộp bình quân ngành thương nghiệp
Tỷ lệ lãi gộp bình quân ngành thương nghiệp có thể được xác định căn cứ vào số liệu tỷ lệ lãi gộp của các mặt hàng khác của đơn vị đó thu mua từ xí nghiệp độc lập và bán cho các xí nghiệp độc lập hay tỷ lệ lãi gộp của các đơn vị thương nghiệp độc lập khác. Tỷ lệ lãi gộp được xác định theo công thức sau :
Tỷ lệ lãi gộp =
Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
x
100%
Doanh thu thuần
(Số liệu căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp)
Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua sẽ không áp dụng trong trường hợp:
Hàng hoá sản phẩm trước khi bán ra đã gia công, chế biến, lắp ráp, thay hình đổi dạng, tăng thêm giá trị sử dụng;
Hàng hoá sản phẩm trước khi bán ra được gắn với nhãn hiệu thương mại, tên thương mại có giá trị cao trên thị trường.
Thời gian giữa thời điểm mua hàng và thời điểm bán hàng kéo dài trên một năm và trong thời gian đó thị trường có sự biến động lớn về giá cả.
Ví dụ : Một doanh nghiệp A tại Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư từ Công ty B sản xuất rượu của nước ngoài. Doanh nghiệp A độc quyền tiêu thụ sản phẩm của Công ty B tại thị trường Việt Nam. Trong năm 1999 doanh nghiệp A nhập khẩu từ Công ty B 10.000 lít rượu, đã nộp thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt theo ấn định của Hải quan là 75.000 USD và trong năm tiêu thụ toàn bộ số rượu với doanh số quy đổi là 185.000 USD. Cuối năm 1999 cơ quan thuế xác định giá mua vào sản phẩm rượu của Xí nghiệp A như sau:
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng - Thuế nhập khẩu.
= 185.000 USD - 75.000 USD = 110.000 USD
Giá bán ra (trừ thuế nhập khẩu)
=
110.000 USD
10.000 lít
=
11 USD/lít
Giả sử tỷ lệ lãi gộp bình quân ngành kinh doanh rượu là 10%
Giá mua vào = 11 USD lít - 11 USD lít x 10% = 9,9 USD lít.
3. Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định thu nhập chịu thuế.
Trường hợp một đơn vị sản xuất, chế biến bán thành phẩm và giao toàn bộ cho xí nghiệp liên kết, không có sản phẩm bán ra trên thị trường để xác định giá so sánh, cơ quan thuế có thể căn cứ vào sổ sách kế toán hạch toán chi phí của đơn vị để xác định thu nhập của đơn vị đó theo công thức sau:
Thu nhập ấn định
=
Tổng giá thành toàn bộ sản phẩm
x
Tỷ lệ thu nhập ròng bình quân ngành sản xuất
Tổng giá thành toàn bộ sản phẩm giao trong kỳ
=
Giá vốn hàng giao trong kỳ
+
Chi phí giao hàng trong kỳ
+
Chi phí quản lý chung
trong kỳ
Tỷ lệ thu nhập ròng bình quân ngành sản xuất có thể xác định căn cứ vào số liệu tỷ lệ thu nhập ròng của các xí nghiệp sản xuất độc lập khác.
Tỷ lệ thu nhập ròng được xác định theo công thức :
Tỷ lệ thu nhập ròng
=
Thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp
Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý chung
(Số liệu căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp).
Ví dụ : Một doanh nghiệp may mặc A tại Việt nam là liên doanh giữa một Công ty B của nước ngoài và một Công ty Việt nam. Hoạt động của doanh nghiệp may mặc A là sản xuất gia công hàng may mặc và giao toàn bộ cho Công ty B tại nước ngoài. Giả sử trong năm 1999, doanh nghiệp A giao cho Công ty B 10.000 bộ quần áo với giá ấn định là 10 USD/ bộ. Sổ sách kế toán của xí nghiệp A trong năm 1999 có số liệu sau:
Giá vốn hàng bán
80.000 USD
Chi phí giao hàng
6.000 USD
Chi phí quản lý chung
12.000 USD
Tổng giá thành toàn bộ
98.000 USD
Doanh nghiệp A và Công ty B tại nước ngoài là hai Doanh nghiệp liên kết, cơ quan thuế có thể ấn định thu nhập chịu thuế như sau:
Giả sử cơ quan thuế xác định được tỷ lệ thu nhập ròng bình quân ngành sản xuất may mặc là 10%.
Thu nhập ấn định = 98.000 USD x 10%.
Trường hợp phát hiện những bất hợp lý về giá nhưng chưa có điều kiện áp dụng các biện pháp trên, cơ quan thuế cần thông báo để doanh nghiệp xuất trình các chứng từ có liên quan và yêu cầu doanh nghiệp cam đoan bằng văn bản tính hợp pháp của các chứng từ đã cung cấp.
Phần thứ tư:
Mục II, phần thứ tư của Thông tư này thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.