QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Về một số chủ trương, biện pháp điều hành kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2004 của thành phố Đà Nẵng ỦY BAN NHÂN DÂN -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) các cấp ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002; -
Căn cứ Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; -
Căn cứ Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004; -
Căn cứ Nghị quyết số 37/2003/NQ-HĐ ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VI, kỳ họp thứ 10 về nhiệm vụ năm 2004; -
Căn cứ Quyết định số 161/2003/QĐ-UB ngày 15 tháng 12 năm 2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2004; - Để triển khai thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và dự toán ngân sách năm 2004, theo đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sờ Tài chính và Chánh Văn phòng HĐND & UBND thành phố, QUYẾT ĐỊNH
Chương I
Điều 1
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh; đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch và xuất khẩu.
1. Tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển mạnh những sản phẩm có thị trường tiêu thụ, có giá trị gia tăng cao, hướng vào xuất khẩu như: hải sản, may mặc, da giày, cao su, hóa chất, sản phẩm phần mềm... Tập trung đẩy mạnh tiến độ đầu tư các dự án tăng năng lực sản xuất, kinh doanh theo quy hoạch và kế hoạch đã đề ra. Hỗ trợ, tạo điều kiện để triển khai nhanh các dự án lớn có sức đột phá như dự án cụm liên hợp sợi - dệt - nhuộm, dự án Nhà máy thép, dự án nâng công suất sản xuất săm lốp ô tô, Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, Nhà máy sữa, Nhà máy sản xuất kính nổi, các dự án về xây dựng hạ tầng du lịch v.v... Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ; tạo sự chuyển biến mói trong sự gắn kết khoa học - công nghệ, đào tạo với sản xuất - kinh doanh và đời sống.
Tiếp tục rà soát, diều chỉnh và triển khai có hiệu quả trên thực tế các chính sách ưu đãi và các biện pháp cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn hơn, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Hết sức khuyến khích và tạo thuận lợi về mặt bằng, thông tin thị trường, tư vấn kỹ thuật, đào tạo nhân lực, tiếp cận các nguồn vốn tín dụng... cho các doanh nghiệp tư nhân, kể cả hộ gia đình đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Giải quyết kịp thời các vấn đề sau cấp phép như: đền bù giải tỏa, cấp GCN ưu đãi đầu tư, hợp đồng thuê đất...
2. Duy trì ổn định thị trường, tạo điều kiện phát triển sản xuất, đảm bảo giữ vững quan hệ cung-cầu đối với một số hàng hóa thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón...; tổ chức các hoạt động thương mại theo hưởng đáp ứng tối đa nhu cầu người tiêu dùng và hỗ trợ phát triển xuất khẩu; từng bước phát triển thương mại nội địa phù hợp với thương mại quốc tế trong quá trình hội nhập; tích cực chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Tận dụng các điều kiện thuận lợi, ưu đãi trong Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của (ASEAN) và các cam kết quốc tế của Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Thành phố hỗ trợ về kinh phí, thông tin thị trường để các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu đi đối với củng cố và phát triển thị trường nội địa, chú trọng xuất khẩu lao động. Quy hoạch và đầu tư thực hiện một số dự án cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các chợ; sắp xếp các chợ tạm, chợ cóc; từng bưóe xã hội hóa công tác đầu tư xây dựng chợ. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý và kinh doanh tại siêu thị Đà Nẵng và tại các chợ lớn của thành phố.
Triển khai chương trình hành động của UBND thành phố thực hiện Nghị quyết 03/TW của Thành ủy về phát triển du lịch thành phố trong thời kỳ mới. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch như: khai thác các loại hình du lịch biển và du lịch sinh thái ở Sơn Trà, Hải Vân và Bà Nà. Xây dựng thêm nhà nghỉ, biệt thự tại khu du lịch Bà Nà - Suối Mơ. Tạo thuận lợi và hỗ trợ việc triển khai và thực hiện nhanh một số dự án khu du lịch lớn, cao cấp ở Bãi Bụt, Bãi Nam, Bãi Trẹm... và dọc ven biển.
Tạo bước tiến mới của các ngành dịch vụ, phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ cảng biển, vận tải biển, hàng không; chú trọng các dịch vụ du lịch, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán,... nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của xã hội và con người, mở rộng các dịch vụ xuất khẩu tại chỗ. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống như tư vấn đầu tư, dịch vụ pháp lý, dạy nghề và tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm...
3. Thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ. Nghiên cứu phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và các làng nghề truyền thông để thu hút lao động; tổng kết mô hình kinh tế trang trại để có hướng phát triển cho thời gian tới. Thành phố hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, chuyển giao kỹ thuật, tìm kiếm thị trường để xây dựng vùng nuôi tôm giống, nâng cao hiệu quả dự án nuôi tôm ở Hòa Hiệp - Liên Chiều; mở rộng diện tích các vùng chuyên canh trổng rau an toàn, trồng các loại hoa, cây cảnh, cây ăn quả phù hợp nhằm nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Phát triển chăn nuôi toàn diện, kết hợp chăn nuôi truyền thống với chăn nuôi công nghiệp. Sơ kết rút kinh nghiệm chương trình đánh bắt hải sản xa bờ để có cơ chế khuyến khích ngư dân cải hoán, nâng cấp, đóng mới tàu thuyền nâng cao sản lượng khai thác. Sớm nghiên cứu hình thành trung tâm kinh doanh hải sản, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản của khu vực miền Trung và cả nước. Tăng cường chăm sóc, bảo vệ rừng và kiểm soát lâm sản; đẩy mạnh công tác trồng rừng; chú trọng công tác phòng cháy và chữa cháy, công tác bảo vệ tài nguyên rừng và các loài động vật quý hiếm. Bảo vệ và xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng quốc gia ở các khu vực Bà Nà, Hải Vân, Sơn Trà...
4. Xây dựng và triển khai Đề án Năm 2004 - năm doanh nghiệp. Có chương trình, kế hoạch chỉ đạo và hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa để tạo điều kiện mở rộng thị trường. Đẩy mạnh thực hiện sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của thành phố theo đề án đã được thủ Tướng Chính phủ phê duyệt. Sơ kết 04 năm thi hành Luật Doanh nghiệp và 01 năm thực hiện đề án phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác xã nhằm khai thác các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế thành phố, chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn. Nghiên cứu quy hoạch các cụm công nghiệp nhỏ trên địa bàn huyện Hòa Vang.
Điều 2
Nâng cao chất lượng côn g tác quy hoạch; huy động các nguồn lực, tập trung đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị; chăm lo tái định cư, giải quyết việc làm và phục hồi thu nhập cho các hộ dân cư nằm trong diện di dời, giải phóng mặt bằng.
1. Nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị, tìm phương án tối ưu đảm bảo lợi ích của nhân dân và sự phát triển lâu dài của thành phố, đảm bảo tính khoa học và tính khả thi; tăng cường phối hợp với chính quyển quận, huyện trong công tác quy hoạch; công khai các quy hoạch cho nhân dân biết, nhất là các khu vực phải di dời, giải phóng mặt bằng cần niêm yết, họp dân công bố công khai; tranh thủ ý kiến của chuyên gia nước ngoài trong công tác quy hoạch nhằm đảm bảo tính văn minh, hiện đại trong xây dựng thành phố; nâng cao chất lượng công tác thẩm định và trình phê duyệt quy hoạch phù hợp vói tình hình của thành phố, hạn chế tối đa việc di dời dân khi không cần thiết.
2. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm các nguồn vốn: đầu tư tập trung từ ngân sách trung ương, vốn khai thác từ quỹ đất, vốn tín dụng, vốn của các đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội, vốn trong dân, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ phi chính phủ (NGO).
3. Tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ, hiện đại. Đặc biệt, tập trung mọi nguồn lực để đảm bảo tiến độ và chất lượng thi công các công trình trọng điểm theo kế hoạch đề ra: Cầu Thuận Phước, đường Điện Biên Phủ, Dự án Thoát nước và Vệ sinh thành phố, đường Ngô Quyền, đường Sơn Trà - Điện Ngọc, nút giao thông Hòa Cầm, các khu tái định cư, Trung tâm Công nghệ phần mềm (cơ sở II), Dự án cấp nước, sân vận động Chi Lăng, Trường THPT Phan Châu Trinh (cơ sở II), bệnh viện 600 giường, trung tâm triển lãm và hội chợ quốc tế... Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống tín hiệu giao thông trong thành phố, tiếp tục phát triển giao thông nông thôn, kiệt, hẻm...
4. Ưu tiên đầu tư để hoàn thành dứt điểm một số công trình kết cấu hạ tầng quan trọng, những công trình công nghiệp then chốt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố; đảm bảo vốn đối ứng cho những dự án có vốn ngoài nước đã được phê duyệt. Bố trí vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên: thanh toán dứt điểm giá trị khối lượng công trình đã hoàn thành, phân bổ đủ vốn theo tiến độ cho công trình chuyển tiếp, công trình khởi công mới trong năm 2004 chỉ bố trí cho các công trình quan trọng và đã có thủ tục chuẩn bị đầu tư. Tích cực tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng xuất khẩu.
5. Tiếp tục thực hiện phương châm "Nhà nước và dân cùng làm" để xây dựng một số công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các quận, huyện.
6. Tập trung chỉ đạo xây dựng các khu tái định cư, các chung cư và ưu tiên bố trí tái định cư cho các hộ dân trong diện di dời, giải toả và các trường hợp đặc biệt khó khăn, diện chính sách; không thực hiện giải tỏa di dời các hộ dân cư nếu chưa bố trí được đất để tái định cư; không để xảy ra tình trạng dân thuộc diện giải tỏa đã bàn giao mặt bằng phải chờ đất tái định cư tại chỗ và các dự án khẩn thiết.
Hoàn chỉnh quy trình giải phóng mặt bằng và tái định cư một cách đồng bộ từ quy hoạch, thu hồi đất, bổi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm trên cơ sở thực hiện tốt việc chuyển đổi ngành nghề, đào tạo nghề mới miễn phí cho người lao động, phục hồi thu nhập và ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện niêm yết công khai tại UBND các phường, các Ban quản lý hoặc trực tiếp phổ biến để nhân dân biết tất cả các vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ người dân. Thường xuyên rà soát, phát hiện và xử lý nghiêm khắc mọi biều hiện tiêu cực, sách nhiễu, thiếu trách nhiệm của cán bộ, nhân viên thực hiện công tác kiểm định đền bù, bố trí đất tái định cư.
7. Tạo điều kiện mở rộng giám sát của Đoàn Đại biều quốc hội, HĐND, chính quyền các cấp và cộng đồng nhằm đảm bảo chất lượng các công trình xây dựng, chống thất thoát, lẵng phí trong XDCB. Củng cố và kiện toàn các Ban quản lý dự án, tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư nhằm quản lý chặt chẽ, tốt hơn công tác đầu tư XDCB và quản lý đô thị.
8. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nâng cao trách nhiệm của UBND quận, huyện, phường, xã trong công tác quản lý đất đai, xử lý nghiêm những trường hợp lân chiếm đất đai, xây dựng trái phép; không bổi thường thiệt hại đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai.
Điều 3
Mở rông và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế:
1. Tăng cường trách nhiệm của Nhà nước, nhân dân, doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, giữa chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, coi trọng hơn các hoạt động hợp tác quốc tế, hoạt động xúc tiến đầu tư tại các khu vực trọng điểm như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ..., đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về thành phố; tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với các địa phương trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, trong nước và quốc tế, trước hết nhằm mở rộng quan hệ kinh tế, hợp tác đầu tư phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, lựa chọn các yếu tố thuận lợi để tùng bước tham gia đầu tư ra nước ngoài.
2. Thực hiện văn bản thoả thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao và UBND thành phố Đà Nẵng, tìm các biện pháp hữu hiệu, thúc đẩy mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo cơ chế thông thoáng để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nưóe ngoài (FDI). Trên cơ sở Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi, tổ chức thực hiện tốt cơ chế chính sách thu hút đầu tư của thành phố, giải quyết kịp thời các vấn đề sau cấp giấy phép đầu tư như đất đai, giải tỏa mặt bằng, cung úng lao động..., tăng cường vận động vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ (NGO); tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA, NGO một cách hiệu quả.
3. Tổ chức cho các ngành, các doanh nghiệp nghiên cứu các hiệp định nước ta ký kết với các nước và các tổ chức kinh tế thế giới; chủ động xây dựng và triển khai thực hiện những phương án giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu, nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm quan trọng để chủ động vượt lên những thách thức gặp phải trong quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
Điều 4
Phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao.
1. Duy trì và phát triển phong trào “dạy tốt, học tốt” trong trường học đi vào thực chất để tạo chuyển biến thật sự về chất lượng giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho thành phố.
Thực hiện giảm tải chương trình giáo dục ở các cấp học theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục; tăng cường quản lý nhà nước đối với các trưòng ngoài công lập. Xây dựng và triển khai đề án quản lý “dạy thêm, học thêm”.
Phát triển hệ thống dạy nghề theo quy hoạch; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực với cơ cấu ngành nghề và trình độ hợp lý; chú trọng thu hút nguồn lao động có trình độ khoa học - kỹ thuật và khả năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Tạo chuyển biến căn bản và toàn diện về phát triển khoa học - công nghệ; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi tập trung nghiên cứu và ứng dụng các đề tài khoa học vào sản xuất và đời sống. Triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin theo tiến độ được duyệt. Xúc tiến nhanh và có hiệu quả dự án thương mại điện tử của thành phố.
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh doanh, quản lý và đội ngũ công nhân lao động có tay nghề. Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút và đãi ngộ để sử dụng có hiệu quả lực lượng cán bộ khoa học, kỷ thuật của thành phố và thu hút sự đóng góp của những nhà khoa học đầu đàn của các Ngành trung ương và các tỉnh, thành trong cả nước. Đổi mới cơ chế đầu tư và quản lý khoa học và công nghệ, huy động mọi nguồn vốn trong nước và ngoài nước để phát huy tiềm năng và tăng tác dụng của khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống.
Đẩy mạnh hoạt động đổi mới công nghệ; tập trung đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, các sản phẩm chế biến có ưu thế về nguyên liệu và các sản phẩm thực hiện theo lộ trình hội nhập vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Chú trọng phát triển, ứng dụng công nghệ cao như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa và công nghệ vật liệu mói.
3. Nâng cao chất lượng hoạt động vãn hóa, nghệ thuật, báo chí, phát thanh truyền hình đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ .văn hóa của nhân dân thành phố. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về vãn hóa; đẩy mạnh công tác phòng chống, bài trừ văn hóa độc hại, mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội, tệ nạn và tội phạm ma tuý. Phát triển phong trào văn hóa ở xã, phường nhất là vùng nông thôn, miền núi.
4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đổi mới hoạt động văn hóa - thông tin, phối hợp chặt chẽ vói Mặt trận trong các hoạt động nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
5. Triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh Thể dục - thể thao, đẩy mạnh phong trào thể dục - thể thao quần chúng; phấn đấu đạt thành tích cao trong thể thao, trước mắt là giải bóng đá chuyên nghiệp, Hội khỏe Phù Đổng năm 2004.
Điều 5
Tập trung giải quyết các vẩn đề xã hội bức xúc, thực hiện tốt chương trình "5 không".
1. Tiếp tục triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp để thực hiện có kết quả
Chương trình “5 không” của thành phố.
Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; quan tâm chỉ đạo giá dịch vụ y tế và giá thuốc chữa bệnh; chú trọng chất lượng khám chữa bệnh BHYT. Tăng cường cồng tác phòng chống HIV/AIDS. Chăm lo hơn nữa công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, đặc biệt là trẻ em khuyết tật, mồ côi; giảm 2 - 2,5% tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm khắc đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm.
Điều 6
Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
1. Đề cao trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố; chú trọng cải tiến lề lối làm việc, tác phong công tác; giảm bớt hội họp không cần thiết, dành thời gian để làm việc với cơ sở, tiếp xúc để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của nhân dân. Nâng cao ý thức kỷ luật, kỷ cương hành chính và đề cao trách nhiệm cá nhân của từng cán bộ, công chức nhà nước trong thực thi công vụ.
2. Các cấp chính quyền, các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước tổ chức đánh giá, rà soát từng điều, từng điểm trong quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở để đảm bảo quy chế dân chủ được thực thi có kết quả thiết thực. Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa”. Tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Xây dựng các quy trình công vụ công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và tổ chức đến quan hệ công tác hoặc yêu cầu giải quyết công việc.
3. Thực hiện tốt việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo. Tập trung kiện toàn và củng cố chính quyền cấp phường, xã, dưới phường không cần khối phố; thực hiện chuyển một số cán bộ xã, phưòng thành công chức Nhà nước theo Pháp lệnh Cán bộ công chức (sửa đổi).
4. Triển khai mạnh mẽ và thực hiện có kết quả Chỉ thị 11-CT/TU của Thành ủy Đà Nẵng, mọi cán bộ, mọi công chức đều phải có ý thức, biện pháp rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; tận tụy và hoàn thành các công việc được giao; tôn trọng và đề cao trách nhiệm, giải quyết đúng, kịp thòi,đầy đủ, rõ ràng các yêu cầu của dân; thực thi nghiêm minh luật pháp; đủ bản lĩnh bài trừ mọi cám dỗ, mua chuộc tiền tài, danh vọng, địa vị. Kiên quyết chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân của cán bộ, công chức các cấp. Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm khắc những cán bộ, công chức vi phạm khuyết điểm trong thi hành công vụ; kiên quyết loại khỏi bộ máy Nhà nước những cán bộ, cồng chức có biều hiện tiêu cực, tham nhũng, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân; đồng thời quan tâm khen thưởng, động viên, quy hoạch lãnh đạo, bồi dưỡng những cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt và khả năng phát triển. Thành lập Đoàn kiểm tra thực hiện Chỉ thị 11 và thi hành Pháp lệnh CB-CC để giúp UBND thành phố chỉ đạo triển khai các nội dung trên.
5. Phối hợp với HĐND và UBMTTQVN thành phố chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để tổ chức cuộc bầu cử đại biều HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009.
Điều 7
Củng c ố quốc phòng - an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
1. Quán triệt và xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể để thực hiện chương trình hành động của Thành ủy triển khai thực hiện Nghị quyết TW 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mói; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh; thực hiện chương trình giáo dục quốc phòng và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng thường trực, dân quân tự vệ, dự bị động viên vững mạnh, chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ “cơ bản, liên hoàn, vững chắc” trên địa bàn thành phố và các quận, huyện chủ động ứng phó mọi tình huống. Trước mắt hoàn thành tốt chỉ tiêu tuyển gọi công dân nhập ngũ năm 2004 cả về số lượng và chất lượng.
2. Tăng cường giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, ma túy và bài trừ các tệ nạn xã hội; chống các hành vi lừa đảo, buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất và kỉnh doanh hàng giả, tham nhũng, tiêu cực. Chú trọng chỉ đạo thực hiện tốt Pháp lệnh và Nghị định của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính và công tác thi hành án dân sự, phấn đấu giảm thấp nhất các loại tội phạm, nhất là trọng tội; duy trì các biện pháp kiên quyết, đồng bộ, thường xuyên để giảm tối đa tai nạn giao thông, giữ vững kỷ cương xã hội, tạo môi trường lành mạnh, thông thoáng cho thành phố phát triển.
Chương II
Điều 8
Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước: Thực hiện theo Quyết định số 162/2003/QĐ-UB ngày 15 tháng 12 năm 2003 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành qui định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi; tỷ lệ điều tiết phần trăm (%) các khoản thu phân chia và định mức phân bổ dự toán chi ngân sách địa phương trong thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2006.
Điều 9
Quản lý thu ngân sách
1. Trên cơ sở dự toán ngân sách năm 2004 được UBND thành phố giao, các Sở, Ban ngành và UBND các quận, huyện tiến hành phân giao nhiệm vụ thu cho các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp dưới. Đối với quận, huyện phấn đấu giao tăng thu tối thiều 5% trên số thu do Chi cục Thuế quản lý thu và số tăng thu (phần ngân sách quận, huyện, phường, xã được hưỏng) sử dụng để tăng thêm dự phòng cho ngân sách cấp mình. Việc phân giao nhiệm vụ thu cần tiến hành theo từng sắc thuế, từng loại phí, lệ phí và từng khoản thu khác; đồng thời các Sở, Ban ngành phải gửi dự toán giao thu cho cơ quan Thuế để tổng hợp, quản lý và tập trung nguồn thu vào ngân sách nhà nước (NSNN).
2. Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí phải thực hiện việc thu, quản lý và sử dụng theo đúng quy định của Pháp lệnh phí, lệ phí; Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của HĐND thành phố và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền liên quan về phí, lệ phí. Các đơn vị sự nghiệp có thu có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu phải nộp vào NSNN theo quy định.
3. Các cơ quan quản lý thu (Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được ủy quyền thu ngân sách nhà nước) phối hợp với Kho bạc Nhà nước (KBNN) tổ chức quản lý, tập trung các khoản thu NSNN theo đúng quy định tại Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 và Thông tư số 80/2003/TT- BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính. Biện pháp thực hiện chủ yếu:
3.1- Vào ngày 20 của tháng cuối quý, các cơ quan thu lập dự toán thu NSNN thuộc phạm vi quản lý có chi tiết theo từng nội dung thu và đối tượng thu của quý sau gửi cho cơ quan Tài chính và KBNN đồng cấp để làm căn cứ tham mưu cho UBND thành phố chỉ đạo, điều hành công tác thu NSNN. Vào ngày 20 hàng tháng, các cơ quan thu lập kế hoạch thu NSNN tháng sau có chi tiết theo địa bàn, đối tượng, nội dung thu, thời hạn nộp gửi KBNN đồng cấp để phối hợp tổ chức thu vào NSNN. Các cơ quan thu phải đảm bảo cung cấp đúng mục lục NSNN theo từng nội dung thu, đối tượng thu để KBNN làm'căn cứ hạch toán và diều tiết đúng qui định.
3.2- KBNN chịu trách nhiệm tập trung các khoản thu ngân sách nhà nước và phân chia các khoản thu cho ngân sách các cấp theo đúng tỷ lệ (%) phân chia được cấp có thẩm quyền quyết định đối với từng khoản thu; tổng hợp, lập báo cáo thu ngân sách nhà nước gửi cơ quan tài chính và các cơ quan hữu quan theo chế độ qui định; phối hợp kiểm tra và đối chiếu số liệu thu ngân sách nhà nước vói các cơ quan thu bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời và xác nhận số liệu thu ngân sách nhà nước theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền...
3.3- Cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan thu, KBNN trong việc tập trung các khoản thu vào NSNN; đôn đốc các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nộp đầy đủ, kịp thời các khóản thu NSNN vào KBNN.
3.4- Giao Cục Thuế thành phố phối hợp với KBNN thành phố bàn biện pháp triển khai thực hiện việc ủy nhiệm thu cho các phường đối với các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ có mức thuế ổn định 3 tháng, 6 tháng.
4. Tiếp tục khai thác nguồn lực từ công sản nhằm góp phần tăng thu cho ngân sách để đầu tư phát triển. Các cơ quan, đơn vị, địa phương được UBND thành phố giao nhiệm vụ thu khai thác quỹ đất, quản lý nhà công sản cần phải nghiêm túc thực hiện thông báo công khai về nhà và đất khi có chủ trương của UBND thành phố cho giao đất, thu tiền sử dụng đất tại các khu dân cư hoặc cho bán nhà công sản để nhân dân biết theo dõi giám sát; đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng rộng rãi hình thức đấu giá công khai nhà, đất trên địa bàn thành phố để đảm bảo công bằng và tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Hàng tháng, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải lập báo cáo tình hình thực hiện khai thác quỹ đất, quỹ nhà, tài sản công cho các cơ quan quản lý theo biều mẫu hướng dẫn của Sở Tài chính thành phố và phải tuyệt đối chấp hành nghiêm túc việc quản lý thu, chi tiền mặt theo nội dung Công văn số 1031/UB-VP ngày 20 tháng 4 năm 2001 và Công văn số 2044/UB-VP ngày 05 tháng 6 năm 2003 của UBND thành phố.
5. Tiếp tục thực hiện phương châm " Nhà nước và nhân dân cùng làm " đối với các công trình kết cấu hạ tầng theo Nghị quyết của HĐND thành phố khóa IV, kỳ họp thứ 10. UBND các quận, huyện xây dựng phương án huy động nhân dân đóng góp theo tỷ lệ quy định phừ hợp với nguồn vốn dối úng từ ngân sách thành phố được bổ' trí trong dự toán. Tiếp tục thực hiện bê tông hóa giao thông thôn, xóm theo phương châm Nhà nước hỗ trợ xi măng, nhân dãn dóng góp nhân công, cát sạn theo Đề án dã được UBND thành phố phê duyệt và dự toán đã bố trí.
6. Các cơ quan, đơn vị có hàng tịch thu sung công quỹ phải tiến hành bàn giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định, không để tình trạng hàng hóa xuống cấp, mất phẩm chất, hư hỏng. Giao cơ quan có trách nhiệm xử lý hàng tịch thu thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện tổ chức bán đấu giá thu tiền nộp ngân sách theo đúng quy định của Nhà nước.
Điều 10
Quản lý chi ngân sách
1. Các Sở, Ban ngành và UBND quận, huyện, khi phân bổ dự toán chi ngân sách do UBND thành phố giao chỉ được phân bổ bằng 90% đối với chi thường xuyên và bằng 95% đối với chi sự nghiệp kinh tế (sau khi trừ cúc khoản chỉ con người, trừ kinh phí đảm bảo xã hội chi phục vụ đối tượng, trừ cúc cơ quan thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính và trừ kinh phí An ninh-Quốc phòng), phần còn lại được sử dụng để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương.
2. Căn cứ dự toán được cấp có thẩm quyền giao, các cơ quan nhà nước, đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo đúng nguyên tắc, nội dung đã qui định tại Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính; đơn vị dự toán cấp I phải lập phương án phân bổ dự toán cho đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nhóm mục chi chủ yếu (Chỉ thanh toán cá nhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi mua sắm, sủa chữa; các khoản chi khác) gửi cơ quan Tài chính đồng cấp để thẩm kiểm tra theo mẫu qui định (Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách được UBND giao nhiệm vụ trực tiếp thì đơn vị sử dụng ngân sách gửi phương án phân bổ chi tiết theo nhóm mục chi và tiến độ thực hiện hàng quí đến cơ quan Tài chính để thẩm tra). Các khoản chi tiền lương, có tính chất lương, chi thường xuyên phục vụ nhiệm vụ công tác chuyên môn phân bổ cho các quí theo chế độ quy định; các khoản mua sắm, sửa chữa, chi sự nghiệp kinh tế phân bổ theo tiến độ thực hiện hàng quí (có chia theo tháng) gửi cơ quan quản lý cấp trên và KBNN nước nơi giao dịch trước ngày 20 của tháng cuối quý trước. Cơ quan quản lý cấp trên tổng hợp nhu cầu chi ngân sách theo quý (có chia theo tháng) gửi cơ quan Tài chính cùng cấp trước ngày 25 của tháng cuối quý trước.
3. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phương án phân bổ ngân sách, cơ quan Tài chính có văn bản thông báo kết quả thẩm định. Trưòng hợp cơ quan Tài chính nhất trí phương án phân bổ thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách phải giao ngay dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, đồng gửi cơ quan Tài chính, KBNN đồng cấp (bản tổng hợp c á c đ ơ n vị) và KBNN nơi giao dịch (gửi bản chi tiết thông qua đơn vị sử dụng ngân sách theo mẫu qui định) . Trường hợp cơ quan Tài chính đề nghị điều chỉnh thì trong phạm vi 3 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan Tài chính, cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách tiếp thu, điều chỉnh. Trưòng hợp không thống nhất nội dung điều chỉnh, báo cáo UBND xem xét, quyết định.
4. Về thực hiện chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán chi ngân sách được thực hiện như sau:
4.1- Về cấp phát thanh toán vốn đầu tư (kể cả vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng) thuộc nguồn vốn NSNN: Tiếp tục thực hiện qui định hiện hành của UBND thành phố. Giao Văn phòng HĐND và UBND thành phố chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, KBNN thành phố nghiên cứu thống nhất đề xuất UBND thành phố ban hành Quy định mới về cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB phù hợp với tình hình quản lý cụ thể của địa phương, qui định chung của Bộ Tài chính theo Luật NSNN có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.
Riêng các dự án đầu tư của xã, việc quản lý vốn đầu tư được thực hiện theo Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 07 tháng 11 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc xã, thị trấn.
4.2- Về cấp phát thanh toán chi thường xuyên:
a- Từ năm 2004 trở đi, việc chi trả, thanh toán theo dự toán do KBNN thực hiện đối với các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị: Các cơ quan hành chính nhà nước; các đơn vị sự nghiệp; các tổ chức chính trị-xã hội, chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí thường xuyên.
Trong trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách đầu năm chưa có dự toán ngân sách do cấp có thẩm quyền giao, KBNN được tạm ứng cho các đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ: Chi lương, các khoản có tính chất tiền lương, chi nghiệp vụ phí và công phụ phí; chi một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy; chi thường xuyên các chương trình mục tiêu quốc gia. Mức tạm ứng mỗi tháng tối đa bằng 1/12 mức thực hiện của năm 2003.
b- Việc cấp phát, thanh toán cụ thể các khoản chi ngân sách nhà nước qua KBNN thực hiện theo quy định tại Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 và Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính. Trong đó, đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp I, cơ quan Tài chính, KBNN thực hiện những qui định chủ yếu sau:
Đối với đơn vị sử dụng ngân sách: Ngay đầu năm phải gửi đến KBNN nơi mở tài khoản giao dịch các hồ sơ tài liệu liên quan theo hướng dẫn của KBNN để làm cơ sở thực hiện dự toán chi ngân sách của đơn vị.
Đối với đơn vị dự toán cấp I : Tổng hợp nhu cầu chi phí của các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo mẫu qui định gửi cơ quan Tài chính cung cấp.
Đối với cơ quan Tài chính: Lập phương án cân đối ngân sách đảm bảo nguồn để thực hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định, nhu cầu chi tiêu của đơn vị đăng ký gửi đến KBNN cùng cấp chấp nhận vào ngày 30 tháng cuối quý trước để phối hợp thực hiện. Trường hợp có khó khăn về nguồn thì thực hiện xử lý theo qui định hiện hành. Trường hợp đặc biệt, mất cân đối tạm thời trong quí về nguồn ngân sách trong việc đảm bảo những yêu cầu chi tiêu trong dự toán của đơn vị thì phải đảm bảo kinh phí hoạt động bình thường của đơn vị, chỉ thị thực hiện tạm giãn, hoãn chi đối với chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn.
Đối với KBNN: Thường xuyên phối hợp với cơ quan Tài chính đồng cấp để cân đối nguồn đảm bảo chi theo dự toán và các nhiệm vụ chi phát sinh đột xuất ngoài dự toán (nếu có); đảm bảo chi trả, thanh toán kịp thời cho các đơn vị sử dụng ngân sách theo đúng dự toán, đúng chính sách, chế độ, tiến độ thực hiện nhiệm vụ; trong trường hợp cơ quan Tài chính chưa có phương án cân đối ngân sách quí mà các đơn vị sử dụng ngân sách có nhu cầu chi đã gửi đến thì KBNN chỉ giải quyết các nhu cầu chi cấp thiết (lương, các khoản có tính chất lương và chi nghiệp vụ) và thông báo lại cho cơ quan Tài chính biết. Trong quá trình thực hiện chi trả, thanh toán có quyền từ chối thanh toán các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện theo qui định hoặc cho tạm dừng thanh toán, nếu các khoản chi vượt nguồn cho phép, sai chính sách, chế độ, đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo và KBNN chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
4.3- Việc quản lý, sử dụng kinh phí hoạt động của Công ty Quản lý & Khai thác nhà, đất; Công ty Phát triển & Khai thác hạ tầng khu Công nghiệp và các BQL dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo các Quy chế đã được UBND thành phố Đà Nẵng ban hành.
4.4- Vốn đối ứng và chi phí tư vấn để tiếp nhận viện trợ của các tổ chức quốc tế được bố trí vào chi sự nghiệp kinh tế (trừ Trường Kỹ thuật-Kinh tế). Các đơn vị, địa phương khi tiếp nhận viện trợ phải lập báo cáo gửi Sở Tài chính để kiểm tra và đề xuất UBND thành phố xem xét, quyết định hỗ trợ vốn đối ứng và chi phí tư vấn; vốn đối ứng chỉ thực hiện giải ngân theo nguyên tắc khi vốn viện trợ đã được tiếp nhận.
Điều 11 : Về cơ chế điều hành dự toán NSNN khi tăng thu, giảm thu và tiết kiệm chi ngân sách
1. Về điều hành ngân sách địa phương: Trong quá trình điều hành ngân sách, nếu địa phương có tăng thu vượt dự toán UBND thành phố giao thì được sử dụng phần tăng thu đó để đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng dự phòng ngân sách và báo cáo thống nhất với Thường trực HĐND trước khi thực hiện; nếu số thu không đạt dự toán UBND thành phố giao thì phải chủ động điều chỉnh giảm chi tương ứng, tập trung cắt giảm hoặc giãn, hoãn những nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết báo cáo Thường trực HĐND xem xét, quyết định để đảm bảo cân đối ngân sách. Trừ một số trường hợp khách quan và đặc biệt mà nguồn thu ngân sách địa phương thu không đủ bù đắp chi thì tùy khả năng của ngân sách, UBND thành phố sẽ xem xét xử lý cụ thể.
2. Về thưởng vượt thu:
2.1- Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu ngân sách, nếu có số thu vượt dự toán UBND thành phố thì được trích thưởng 5% (năm phần trăm) trên số vượt thu (phần ngân sách thành phố được hưởng).
Phần trích thưởng này, cơ quan thu được hưởng 60%, nhưng mức trích thưỏng vượt dự toán thu thực nhận tính bình quân không quá 4 triệu đồng/1 cán bộ/năm.
Phần trích thưởng còn lại sau khi chi thưởng theo mức khống chế cho các cơ quan thu được sử dụng để thưởng cho các ngành có tham gia phối hợp (tùy theo mức độ hỗ trợ, phối hợp).
Điều 12
Chế độ báo cáo kế toán thu, chi ngân sách
1. Các đơn vị dự toán các cấp phải báo cáo kế toán theo chế độ kế toán Nhà nước và các văn bản pháp luật khác về kế toán, thống kê hiện hành.
2. Hàng ngày, cơ quan KBNN có trách nhiệm báo cáo xuất, nhập quỹ ngân sách Nhà nước và quỹ ngân sách các cấp chính quyền địa phương; hàng tháng, lập báo cáo thu, chi ngân sách Nhà nước gửi UBND, cơ quan Tài chính, cơ quan thu cùng cấp và gửi KBNN cấp trên.
3. Tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp Nhà nước do thành phố quản lý; chính sách ưu đãi về tài chính nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp phần mềm; ưu đãi về giá cho thuê đất đối với một số lĩnh vực khuyến khích đầu tư và đầu tư trực tiếp vào các Khu Công nghiệp do thành phố quản lý; tiếp tục thực hiện cơ chế thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp trên địa bàn xuất khẩu đạt hiệu quả cao.
Điều 13
Một số biện pháp khác
1. Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quán triệt hơn nữa và thực hiện nghiêm túc chủ trương thực hành tiến kiệm, chống lãng phí về chi tiêu ngân sách, sử dụng tài sản công. Sáu tháng và cuối năm, các cơ quan, đơn vị, địa phương có đánh giá kết quả thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí theo biều mẫu hướng dẫn gửi Sở Tài chính thành phố để tổng hợp báo cáo UBND thành phố.
2. Các cơ quan Thanh tra thành phố, Thanh tra Tài chính, Thanh tra Thuế cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra công tác quản lý tài chính, ngân sách đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương trình UBND thành phộ' phê duyệt để triển khai thực hiện; theo dõi phát hiện kịp thời những sai phạm trong việc quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước để có biện pháp chấn chỉnh, uốn nắn hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan Tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành tiếp tục đẩy mạnh công tác thực hiện giao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cho các đơn vị sự nghiệp có thu đã ổn định về tổ chức, bộ máy và ổn định nguồn thu trên tinh thần Chỉ thị số 18/2003/CT-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ. Các đơn vị đã được giao quyền tự chủ tài chính, tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định tại Thông tư 50/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính. Sở Tài chính và KBNN thành phố hướng dẫn cho các đơn vị triển khai thực hiện việc này xong trong Quý 1/2004.
4. Tiếp tục mở rộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính thêm 4 cơ quan (Thanh tra thành phố, Sở Công nghiệp, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư) và 4 quận, huyện (Sơn Trà, Liên Chiều, Ngũ Hành Sơn và huyện Hòa Vang). Giao trách nhiệm cho Ban Tổ chức Chính quyền phối hợp với Sở Tài chính thành phố thẩm định Đề án đăng ký thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan để trình UBND thành phố quyết định.
Riêng công tác quản lý ngân sách và các hoạt động tài chính khác của phường, xã thực hiện theo quy định tại Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính.
4.1- Về cấp phát thanh toán vốn đầu tư (kể cả vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng) thuộc nguồn vốn NSNN: Thực hiện theo qui định chung của Bộ Tài chính và qui định cụ thể của UBND thành phố. Trong đó:
a- Đối với vốn trong kế hoạch:
Chủ đầu tư dự án phải gửi cơ quan Tài chính đồng cấp các tài liệu cơ sở của dự án để kiểm tra, thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho Chủ dự án theo hướng dẫn của Sở Tài chính.
Trên cơ sở tài liệu của Chủ dự án gửi đến và kết quả kiểm tra, Sở Tài chính hoặc Phòng Tài chính quận, huyện (tùy theo nguồn vốn đầu tư của cấp ngân sách) thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho KBNN để làm căn cứ thanh toán cho các dự án sau khi thống nhất với Văn phòng HĐND và UBND thành phố (đối với dự án do thành phố quản lý); đồng gửi cho các ngành quản lý có dự án để theo dõi, phối hợp quản lý.
Định kỳ hàng tháng, quý, năm, KBNN tổng hợp lập báo cáo tình hình thanh toán vốn đầu tư trên địa bàn theo nguồn vốn đầu tư của cấp ngân sách gửi cơ quan Tài chính đồng cấp. Đối với tình hình thanh toán vốn đầu tư từ nguồn ngân sách thành phố, Sở Tài chính có trách nhiệm tổng hợp gửi Văn phòng HĐND và UBND thành phố để báo cáo UBND thành phố.
b. Đối với vốn ngoài kế hoạch:
Trên cơ sở chủ trương của UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Tài chính để thống nhất nguồn vốn ngân sách đảm bảo cho dự án, trình UBND thành phố xem xét quyết định bằng văn bản cụ thể.
Sau khi có Quyết định của UBND thành phố về dự án ngoài kế hoạch phát, sinh, Sở Tài chính thực hiện thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho dự án như điểm a, khoản 4.1, Điều này.
c- Đối với các dự án đầu tư của xã, phường, việc quản lý vốn đầu tư được thực hiện theo Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 07 tháng 11 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuởc xã, thị trấn
Chương III
Điều 14
Về việc giao chỉ tiêu kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch năm 2004:
Trước ngày 01/01/2004, tất cả các Sở, ban, ngành, quận, huyện triển khai giao kế hoạch và dự toán thu chi ngân sách cho- đơn vị cơ sở trực thuộc và phường, xã. Các chủ đầu tư phải làm xong công tác chuẩn bị đầu tư chậm nhất đầu quý n năm 2004. Các ngành, các cấp cần phát động phong trào thi đua hoàn thành nhiệm vụ và chỉ tiêu được giao.
Về điều hành kế hoạch: Tiếp tục duy trì chế độ giao ban báo cáo tình hình và gửi báo cáo (bằng văn bản) của đơn vị, ngành, địa phương vào ngày 18 hàng tháng để Văn phòng HĐND và UBND thành phố phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư nắm tình hình thực hiện các kết luận của UBND thành phố Đà Nẵng trong đợt giao ban trước và phản ảnh trong giao ban với lãnh đạo UBND thành phố giải quyết những vưóng mắc.
Điều 15
Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Giám đốc các Sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc UBND thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký.