THÔNG TƯ Hướng dẫn những vấn đề về tài chính trong giao, bán doanh nghiệp Nhà nước Thi hành Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/09/1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về tài chính trong giao, bán doanh nghiệp Nhà nước như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Đối tượng áp dụng là những doanh nghiệp Nhà nước độc lập và các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty (trừ các doanh nghiệp là nông trường, lâm trường quốc doanh, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, giám định) có một trong các điều kiện sau: a) Có số vốn kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm vốn ngân sách cấp hoặc coi như ngân sách cấp và vốn tự bổ sung của doanh nghiệp (dưới đây gọi chung là vốn Nhà nước) trên sổ sách kế toán dưới một tỷ đồng, kinh doanh thua lỗ kéo dài, nhưng chưa lâm vào tình trạng phá sản. b) Có số vốn Nhà nước trên sổ sách kế toán dưới một tỷ đồng, kinh doanh không bị thua lỗ, nhưng không thuộc đối tượng Nhà nước cần nắm giữ cổ phần. c) Có số vốn Nhà nước trên sổ sách kế toán từ một tỷ đồng đến dưới năm tỷ đồng, bị thua lỗ kéo dài, nhưng chưa lâm vào tình trạng phá sản,
sau khi đã thực hiện các biện pháp cần thiết, nhưng vẫn không khắc phục được và được Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng trường hợp cụ thể. 2. Giao, bán doanh nghiệp để tiếp tục sản xuất kinh doanh; người nhận giao, người mua không được bán lại doanh nghiệp trong thời gian quy định của hợp đồng, kể cả các trường hợp bán dần, bán từng bộ phận tài sản của doanh nghiệp, trừ trường hợp bán những tài sản không cần dùng, cần thanh lý để thay thế, đổi mới công nghệ tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. 3. Giám đốc doanh nghiệp với sự tham gia của Ban Đổi mới tại doanh nghiệp, chịu trách nhiệm chỉ đạo các phòng ban trong doanh nghiệp tổ chức kiểm kê, xác định số lượng và thực trạng toàn bộ tài sản và vốn doanh nghiệp, tiến hành phân loại tài sản, các khoản công nợ và có biện pháp xử lý, lành mạnh hoá tài chính trước khi giao, bán doanh nghiệp. Đồng thời lập bảng cân đối tài chính và báo cáo kế toán đến thời điểm giao, bán doanh nghiệp. 4. Tất cả các tài sản doanh nghiệp thực hiện giao, bán đều tính bằng giá trị thực tế trên thị trường tại thời điểm quyết định thực hiện giao, bán. Giá này do bên giao, bên bán xác định và được bên nhận giao, bên mua thoả thuận trong các hợp đồng giao, bán và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 5. Số tiền thu được từ việc bán doanh nghiệp
sau khi trừ chi phí phục vụ cho việc bán doanh nghiệp, thanh toán các khoản nợ có bảo đảm và đến hạn trả được nộp vào Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, các cấp tương đương: Quỹ Trung ương (nếu là doanh nghiệp nhà nước Trung ương) Quỹ của Tổng công ty 91 (nếu là doanh nghiệp thành viên Tổng công ty 91) và Quỹ của địa phương (nếu là doanh nghiệp nhà nước địa phương). 6. Các khoản chi phí thực tế hợp lý và cần thiết cho việc tổ chức giao và bán doanh nghiệp được giảm trừ vào tiền thu về bán doanh nghiệp hoặc giá trị của doanh nghiệp trước khi giao. II. GIAO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CHO TẬP THỂ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP. 1. Nguyên tắc xử lý tài sản và công nợ trước khi giao doanh nghiệp. 1.1. Đối với nợ phải thu: Doanh nghiệp có trách nhiệm tự xử lý các khoản nợ phải thu trước khi giao doanh nghiệp theo hướng: a) Các khoản nợ phải thu khó đòi có nguyên nhân khách quan: Đối với các khoản nợ đã có đủ chứng cứ xác định là khoản nợ không đòi được như: con nợ đã bị giải thể, phá sản, con nợ đã bỏ trốn, con nợ đang thi hành án và đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán... thì doanh nghiệp sử dụng khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu thiếu được hạch toán vào kết quả kinh doanh (nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi). Trường hợp không còn lãi thì doanh nghiệp báo cáo với các cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp cùng cấp và cơ quan quyết định giá giao doanh nghiệp để xử lý giảm giá trị doanh nghiệp (phần vốn Nhà nước) trước khi thực hiện giao doanh nghiệp. Đối với các khoản công nợ dây dưa, đã phát sinh trên 5 năm mà con nợ còn đang tồn tại, doanh nghiệp đã tích cực áp dụng nhiều giải pháp, nhưng vẫn không thu hồi được nợ, thì được xử lý theo những nguyên tắc sau: Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi: được hạch toán vào kết quả kinh doanh, giảm lãi trước khi giao. Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, bị thua lỗ hoặc không có lãi: doanh nghiệp báo cáo cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp và cơ quan quyết định giá giao doanh nghiệp để xử lý giảm giá trị doanh nghiệp (phần vốn Nhà nước) trước khi giao. b) Các khoản nợ phải thu khó đòi do nguyên nhân chủ quan đã quy được trách nhiệm cá nhân thì phải xử lý trách nhiệm, bồi thường vật chất.
Phần tổn thất (sau khi đã xử lý trách nhiệm, bù đắp từ các nguồn dự phòng) được xử lý như đối với các khoản nợ phải thu khó đòi có nguyên nhân khách quan.
Điều 58 Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ.
3. Quyền sở hữu đối với doanh nghiệp sau khi giao
3.1 Người lao động có trong danh sách lương, có đóng bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp thực hiện giao cho tập thể người lao động được sở hữu một phần giá trị doanh nghiệp giao bằng cổ phần, tương ứng với số năm làm việc trong khu vực Nhà nước chưa được hưởng trợ cấp thôi việc, mất việc.
Cơ quan ra quyết định giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động có trách nhiệm ký Hợp đồng với người đại diện nhận giao doanh nghiệp (Chủ tịch công đoàn hoặc người được công đoàn uỷ quyền) và trong Hợp đồng có kèm theo danh sách về quyền sở hữu nói trên của mỗi người lao động.
3.2. Đối với số cổ phần được giao, người lao động trong doanh nghiệp chỉ được hưởng cổ tức, có quyền để thừa kế, nhưng không được chuyển nhượng trong thời hạn tối thiểu là 3 năm sau khi giao doanh nghiệp.
3.3. Căn cứ vào số cổ phần được giao, người lao động có trách nhiệm ký nhận nợ với doanh nghiệp mới 30% giá trị cổ phần tại thời điểm giao và phải hoàn trả doanh nghiệp khi chuyển nhượng cổ phần để doanh nghiệp hoàn trả Nhà nước (Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cùng cấp tương đương).
Trường hợp chuyển nhượng một phần cổ phần, thì trước hết người lao động có trách nhiệm đảm bảo hoàn trả đủ 30% giá trị cổ phần tại thời điểm giao để doanh nghiệp hoàn trả Nhà nước.
III. BÁN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Nguyên tắc xử lý tài sản và công nợ khi bán doanh nghiệp
Doanh nghiệp có trách nhiệm tự xử lý các khoản nợ phải thu, phải trả, và các khoản lỗ trước thời điểm bán doanh nghiệp.
1.1. Đối với nợ phải thu:
Được xử lý theo nguyên tắc đã quy định tại tiết 1.1 mục 1 phần II của Thông tư này.
1.2. Đối với nợ phải trả và các khoản lỗ (nếu có):
Tuỳ theo điều kiện mua bán có kế thừa nợ hay không kế thừa nợ để xử lý theo nguyên tắc:
a) Trường hợp người mua cam kết kế thừa các khoản nợ thì được giảm trừ lỗ và các khoản nợ phải trả vào giá trị doanh nghiệp bán.
Mọi cam kết giữa các bên mua bán phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp và thông báo cho các bên có liên quan biết.
b) Trường hợp người mua không cam kết kế thừa nợ thì người bán doanh nghiệp có trách nhiệm xử lý toàn bộ các khoản nợ còn lại theo hướng:
Trước khi chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp bán phải thu các khoản dưới đây:
Tiền thu từ các khoản nợ phải đòi.
Tiền thu từ việc thanh lý tài sản không thuộc giá trị doanh nghiệp bán.
Tiền thu từ bán doanh nghiệp (sau khi trừ chi phí cho việc bán doanh nghiệp).
Các khoản thu khác nếu có (như vốn bằng tiền không nằm trong danh mục tài sản để bán).
Doanh nghiệp bán được sử dụng các khoản thu nói trên dùng để thanh toán các khoản nợ phải trả có đến thời điểm bán doanh nghiệp bao gồm:
Nợ Bảo hiểm xã hội.
Nợ Ngân hàng.
Nợ các tổ chức kinh tế và nợ cá nhân.
Nợ Ngân sách Nhà nước.
Nợ khác.
Số dư còn lại sau khi trừ các khoản phải trả nói trên doanh nghiệp bán phải nộp vào Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước theo quy định tại mục "5" phần I của Thông tư này.
Trường hợp các khoản thu không đủ thanh toán các khoản nợ thì doanh nghiệp bán có trách nhiệm báo cáo cơ quan ra quyết định bán doanh nghiệp và Cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp cùng cấp có biện pháp xử lý. Trong đó có các biện pháp như bán nợ cho các công ty mua bán nợ hoặc hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo quy định. Trường hợp có đề nghị xoá nợ thuế và các khoản nợ ngân sách thì doanh nghiệp báo cáo cơ quan ra quyết định bán doanh nghiệp để báo cáo Bộ Tài chính xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
Trong số các khoản nợ phải thu không được bên mua doanh nghiệp kế thừa, bên bán có thể thoả thuận với bên mua nhờ thu hộ trong một thời gian nhất định và được trừ chi phí thu nợ do hai bên thoả thuận.
Tất cả các cam kết nói trên giữa bên mua và bên bán doanh nghiệp đều phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp và thông báo cho các bên có liên quan biết.
1.3. Xử lý tài sản không tính trong giá trị doanh nghiệp bán.
a) Những tài sản vật tư ứ đọng không cần dùng, những tài sản không được bên mua thoả thuận tính trong giá trị doanh nghiệp để bán thì bên bán (doanh nghiệp bán) có trách nhiệm xử lý trước thời điểm bán doanh nghiệp.
b) Trường hợp chưa kịp xử lý trước thời điểm bán thì doanh nghiệp bán có trách nhiệm quản lý và có biện pháp xử lý trước khi chấm dứt hoạt động. Hướng xử lý những tài sản này là nhượng bán thanh lý để thu hồi. Doanh nghiệp bán phải lập Hội đồng xác định giá trị chất lượng tài sản và thực hiện việc tiêu thụ kể cả việc phải cho giảm giá và bán đấu giá theo các qui định hiện hành.
c) Trường hợp không tiêu thụ được trước khi doanh nghiệp bán chấm dứt hoạt động thì cơ quan quyết định bán doanh nghiệp có thể giải quyết theo hướng:
Điều động để tiếp tục xử lý hoặc bán lại qua các công ty trung gian về mua bán tài sản.
Gửi người mua doanh nghiệp giữ hộ, bán hộ theo sự thoả thuận về giá cả của người bán doanh nghiệp. Trong trường hợp này người mua doanh nghiệp được bù đắp chi phí bảo quản và bán hộ do hai bên thoả thuận. Thời gian giữ hộ không quá 90 ngày kể từ ngày có quyết định bán doanh nghiệp.
1.4. Đối với tài sản hình thành từ Quỹ khen thưởng, phúc lợi
a) Về nguyên tắc, các tài sản này được chuyển giao cho tập thể người lao động quản lý và sử dụng thông qua tổ chức công đoàn cơ sở. Riêng đối với các tài sản là nhà ở thì thực hiện chuyển giao cho Sở Nhà đất để thực hiện hoá giá nhà cho người lao động theo chế độ hiện hành.
b) Trường hợp người mua chỉ cam kết tiếp tục sử dụng dưới 50% số lao động hiện có của doanh nghiệp thì cơ quan quyết định bán doanh nghiệp có thể bán lại cho người mua doanh nghiệp hoặc cho các tổ chức kinh tế, xã hội khác để chia cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp.
2. Xác định giá trị doanh nghiệp để bán
2.1. Tổ chức xác định giá bán doanh nghiệp:
Căn cứ vào kết quả kiểm kê, phân loại tài sản, điều kiện mua bán và tình hình xử lý các tồn tại về tài chính như quy định nói trên, Giám đốc doanh nghiệp có trách nhiệm cùng với Ban Đổi mới tại doanh nghiệp lập phương án bán doanh nghiệp và xác định giá bán tối thiểu trình lên cơ quan quyết định bán doanh nghiệp.
Cơ quan quyết định bán doanh nghiệp có trách nhiệm chỉ đạo Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp chủ trì, phối hợp với các ban, ngành có liên quan thẩm tra và xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp bán để làm cơ sở xác định giá bán doanh nghiệp theo các phương thức đấu thầu hoặc thoả thuận trực tiếp như quy định tại Nghị định 103) 1999) NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ.
2.2. Nguyên tắc xác định giá bán doanh nghiệp:
Nguyên tắc xác định giá trị thực tế của các tài sản của doanh nghiệp để bán theo quy định như tại điểm "2.2" mục "2" phần II Thông tư này.
Giá bán doanh nghiệp được xác định trên cơ sở giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm bán được người mua và người bán thoả thuận tuỳ thuộc vào:
Điều kiện mua và bán (có kế thừa nợ hay không kế thừa nợ, thanh toán một lần hay làm nhiều lần);
Mức giảm giá đối với người mua khi người mua cam kết đầu tư duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm cho người lao động hiện có ở doanh nghiệp;
Phương thức bán (đấu thầu, hoặc thoả thuận trực tiếp);
Giá bán doanh nghiệp phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại
Điều 58 Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ.
Đối với trường hợp người mua có kế thừa nợ, thì giá trị thực tế doanh nghiệp bán là giá trị thực tế nguồn vốn Nhà nước tại doanh nghiệp ở thời điểm bán và được người mua, người bán chấp thuận.
Đối với trường hợp người mua không kế thừa nợ, thì giá trị thực tế doanh nghiệp bán là giá trị thực tế của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp mà người mua có nhu cầu sử dụng (không bao gồm các khoản nợ phải thu và vốn bằng tiền) và được người mua, người bán chấp thuận. Trong trường hợp này, việc thực hiện chế độ ưu đãi về giảm giá bán doanh nghiệp theo các quy định tại các
Điều 50,
Điều 51 và
Điều 52 của Nghị định 103/1999/NĐ-CP phải đảm bảo nguồn để thanh toán các khoản nợ đã vay để đầu tư mua sắm tài sản của doanh nghiệp.
2.3. Chi phí bán doanh nghiệp:
Các khoản chi phí thực tế, hợp lý và cần thiết cho việc tổ chức bán doanh nghiệp được trừ vào tiền thu được do bán doanh nghiệp.
Mức chi phí cho việc bán doanh nghiệp được xác định và quản lý như chi phí giao doanh nghiệp đã được quy định tại điểm "2.3" mục "2" phần II trong Thông tư này.
2.4. Các chế độ ưu đãi về giá bán doanh nghiệp: áp dụng như các quy định hiện hành tại Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này ở các doanh nghiệp thực hiện giao, bán.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết./.