QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN “V/v Ban hành bản quy định việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;
Căn cứ Luật đất đai ngày 14/7/1993. -
Căn cứ Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ). -
Căn cứ Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ, -
Xét đề nghị của Giám đốc các sở: Xây dựng, Địa chính, Nông nghiệp và PTNT, Giao thông vận tải, Tài chính Vật giá. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 . Ban kèm theo quyết định này bản quy định việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3
Các ông (bà): Chánh văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Đình Phú
QUY ĐỊNH
“VIỆC ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG, AN NINH, LỢI ÍCH QUỐC GIA, LỢI ÍCH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN”
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 750/1998/QĐ-UB ngày 27/4/1998 của UBND tỉnh)
Chương I
Điều 1
Bản quy định này bao gồm những nội dung chủ yếu thực hiện việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia; lợi ích công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Điều 2
UBND tỉnh là cấp quyết định phương án đền bù trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật, theo phân cấp của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương;
Điều 3
Các cơ quan chức năng thuộc UBND tỉnh có tráchnhiệm tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện việc đền bù thiệt hại về đất và tài sản cho tổ chức và cá nhân bị thu hồi đất;
3.1 – Sở Tài chính Vật giá căn cứ phương án đền bù do chủ đầu tư lập, chủ trì thẩm định về giá đền bù trình UBND tỉnh quyết định.
3.2 – Sở Địa chính trực tiếp làm các thủ tục về việc thu hồi đất, giao đất trình UBND tỉnh, chủ trì soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai liên quan đến việc đền bù giải phóng mặt bằng.
3.3- Sở Xây dựng chịu trách nhiệm chính trong việc xác định hệ số sử dụng còn lại của công trình kiến trúc trên diện tích đất bị thu hồi để tính toán giá trị đền bù tài sản và phối hợp với Sở Địa chính, UBND các huyện, thị xã xác định theo quy hoạch được duyệt về cấp hạng đô thị, khu ven đô thị, trục trường v.v… để xác định loại đường phố, vị trí đất ở bị thu hồi được đền bù thiệt hại khi thu hồi đất.
3.4- Cục thuế chịu trách nhiệm xác định hạng đất bị thu hồi theo sổ bộ thuế đã thu hồi trước đó.
3.5- Chủ đầu tư cùng chính quyền địa phương chịu trách nhiệm lập phương án và thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng.
Trong trường hợp cần thiết, UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo GPMB làm nhiệm vụ chỉ đạo thu hồi đất và đền bù thiệt hại cho tổ chức và cá nhân bị thu hồi đất.
3.6- UBND các huyện, thị xã khi có quyết định của UBND tỉnh thu hồi đất thuộc địa bàn quản lý, có trách nhiệm thực hiện theo phân cấp về quản lý nhà nước, trực tiếp hoặc tham gia thực hiện việc đền bù thiệt hại về đất và tài sản cho tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi trong quá trình kê khai diện tích, hạng đất, loại đất, vị trí của đất số lượng tài sản … Tổ chức giải phóng mặt bằng, xử lý hành chính và tổ chức cưỡng chế khi cần thiết.
Chương II
Điều 5.
1- Tổ chức và cá nhân được đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất phải có đấy đủ giấy tờ hợp pháp của cấp có thẩm quyền khi giao đất.
2- Trường hợp người bị thu hồi đất là người được thừa kế quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng đất phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định của Pháp luật.
Điều 6.
1- Tổ chức, cá nhân sử dụng đất hợp pháp, mà bị thu hồi đất thì được tính toán đền bù thiệt hại về đất và tài sản hiện có trên đất.
2- Tổ chức, cá nhân sử dụng đất tạm giao, đất cho thuê, đất đấu thầu đúng quy định, bị thu hồi đất thì tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết hỗ trợ thiệt hại về tài sản.
Điều 7.
1- Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang được Nhà nước giao đất mà được miễn nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, thì khi bị thu hồi đất; các tổ chức này không được đền bù thiệt hại về đất, nhưng được xem xét cấp đất mới.
2- Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, đơn vị kinh tế tập thể, doanhnghiệp tư nhân khi Nhà nước thu hồi đất,nếu đất đang sử dụng khi được giao đã nộp tiền sử dụng đất mà không thuộcnguồn vốn của ngân sách nhà nước thì được giảm giá tính thuế và tiền thuê đất, được hỗ trợ công vượt lập (nếu có) và được đền bù một phần tiền nộp khi giao đất cùng nhưng tài sản xây dựng hợp pháp trên đất.
Trong trường hợp đất đang sử dụng mà khi được giao đã nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn ngân sách hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước thì không được đền bù thiệt hại về đất.
3- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là người nước ngoài) và Xí nghiệp có vốn đầu từnước ngoài tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất, khi bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích nói tại điều 1 bản quy định này được xem xét, giải quyết đền bù thiệt hại theo quy định riêng.
Chương 3
Điều 8
Tổ chức và cá nhân được giao đất sử dụng vào mục đích nào thì khi bị thu hồi đất, được đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng để thay thế hoặc đền bù bằng tiền theo khung giá đất cùng mục đích sử dụng.
Trường hợp không thể đền bù bằng cách giao đất thay thế hoặc tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất không yêu cầu đền bù bằng đất thì xem xét đền bù bằng tiền theo khung giá cùng hạng hoặc cùng loại của đất bị thu hồi. Giá đất để tính đền bù thiệt hại theo khung giá đất tại biểu số 1 ban hành kèm theo quyết định này.
Đất công ích, quỹ đất dự phòng làm đường giao thông, thủy lợi khi thu hồi không được đền bù về đất.
Điều 9 . Quỹ đất để đền bù thiệt hại gồm:
Đất cải tạo từ đất hoang hóa dùng vốn ngân sách hoặc vốn chương trình mục tiêu 773;
Đất thu hồi theo điều 26 Luật đất đai;
Qũy đất công tích của xã, phường, thị trấn.
Điều 10
Tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp khi bị thu hồi, thì được đền bù thiệt hại về đất như sau:
1- Nếu đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp thì được đền bù bằng đất cùng loại theo đúng diện tích và hạng đất của đất bị thu hồi.
2- Nếu đất bị thu hồi là đất chuyên dùng, đất ở thì được đền bù bằng đất chuyên dùng, đất ở theo đúng diện tích và loại đất hoặc hạng đất bị thu hồi.
3- Trường hợp đất được đền bù có giá trị thấp hơn hoặc diện tích được đền bù nhỏ hơn đất bị thu hồi thì được đền bù thêm phần chênh lệch giá trị diện tích giứa đất bị thu hồi và đất được đền bù.
Đối với đất ở tại đô thị khi Nhà nước thu hồi thì được đền bù bằng đất ở hoặc bằng tiền. Nếu có chênh lệch giá trị giữa đất được đền bù và đất bị thu hồi thì giải quyết theo nguyên tắc bù trừ.
Điều 11 . Khi thu hồi đất của tổ chức, cá nhân sử dụng đất trong các trường hợp theo quy định tại khoản 2 điều 6 và khoản 2 điều 7 bản quy định này, tùy từng trường hợp giải quyết hỗ trợ bầng cách giao đất hoặc tiền nhưng mức tối đa không quá 30% diện tích đất hoặc giá trị đất bị thu hồi.
Riêng trường hợp thu hồi đất đấu thầu, đất cho thuê đúng quy định thì được đền bù tương đương giá trị của đất tính theo thời gian sử dụng còn lại.
Điều 12
Tổ chức, cá nhân sử dụng đất bất hợp pháp như lấn chiếm không kê khai diện tích, không nộp thuế, tiền sử dụng đất, đất cấp trái thẩm quyền; khi bị Nhà nước thu hồi không được đền bù thiệt hại về đất và phải tự chịu mọi chi phí tháo dỡ, giải tỏa mặt bằng theo yêu cầu của Nhà nước, đồng thời tùy theo mức độ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
Điều 13 . Đối với đất đắp đê, làm các công trình thủy lợi và đường giao thông:
1- Đất lấy để đắp đê hàng năm ngoài bãi nhằm lợi dụng phù sa bồi lấp (không thuộc đất thu hồi vĩnh viễn) chỉ được tính đền bù về công, giống, vốn loại cây trồng một vụ trên đất đó cùng với tiền đền bù để san gạt lại mặt bằng canh tác và được miễn thuế tối thiểu một vụ.
2- Đối với đất khi mở rộng đường giao thông: Phần đất nằm trong hành lang giao thông kể từ sau ngày thực hiện Nghị định số 203/HĐBT ( ngày 21/12/1982) với đất ở qua các khu dân cư dù bất kỳ nguồn gốc nào, đất ở lâu đời trong phạm vi 5m tính từ chân ta luy đường, khi Nhà nước thu hồi không được tính toán đền bù thiệt hại về đất và tài sản (trường hợp đường không xác định rõ chân ta luy thì tính mép đường cộng thêm 1,5m)
Chương 4
Điều 14
Đối với nhà ở, vật kiến trúc và các công trình xây dựng hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi thì được đền bù bằng giá trị còn lại của công trình. Giá trị còn lại của công trình được xác định bằng tỷ lệ (%) còn lại của công trình nhân với giá xây dựng mới theo mức giá tại biểu số 2 ban hành kèm theo quyết định này.
Đối với nhà cửa, vật kiến trúc có thể tháo rời và di chuyển đến chỗ mới để lắp đặt được thì chỉ đền bù chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt lại tương xứng với công trình phải di dời.
Trường hợp công trình xây dựng không hợp pháp (kể cả trên đất hợp pháp) khi thu hồi đất thì không được đền bù công trình.
Điều 15.
1- Đối với việc di chuyển mồ mả, mức đền bù di chuyển được tính cho toàn bộ chi phí đào, bốc, di chuyển và xây dựng lại. Đơn giá đền bù theo mức giá tại biểu số 3 ban hành kèm theo quyết định này.
2- Việc đền bù, di chuyển đối với các di tích lịch sử, nhà thờ, đình chùa, nghĩa trang liệt sĩ. UBND tỉnh quyết định cho từng trường hợp cụ thể.
Điều 16.
1- Mức đền bù đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước, tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ (tính theo sản lượng thu hoạch bình quân của 3 vụ trước đó) và giá nông sản, thủy sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời đểm đền bù.
Đơn giá đền bù tại biểu số 4 ban hành kèm theo quyết định này.
2- Mức đền bù đối với cây lâu năm:
a) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ sinh trưởng hoặc mới bắt đầu thu hoạch thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
b) Nếu cây trồng đang ở thờikỳ thu hoạch thì đền bù theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị đầu tư ban đầu cộng chi phí chăm sóc đến vụ thu hoạch đầu tiên, trừ phần đã khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức đền bù tối đa bằng 2 năm sản lượng (tính theo sản lượng bình quân quả 3 năm trước đó) và theo giá của nông sản cùng loại ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
c) Nếu là các loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời điểm thu hồi đất.
d) Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thanh lý thì chỉ đền bù chi phí cho việc chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây.
Đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước và các loại cây trồng trên đất không hợp pháp thì người trồng phải tự thu hồi giải tỏa theo yêu cầu của Nhà nước.
Đối với cây bóng mát, cây ăn quả, cây lấy gỗ trồng trên vỉa hè, hành lang giao thông khi thực hiện NĐ 36/CP chưa xử lý, nay mở rộng đường hoặc làm các công trình kỹ thuật như cấp thoát nước, điện sinh hoạt, thông tin … thì không đền bù về giá trị, nhưng có thể hỗ trợ chi phí chặt hạ khi cần thiết.
Điều 17 . Đối với công trình kỹ thuật như: Đường điện lực; điện thông tin, công trình thủy lợi .v.v… khi phải di dời thì chủ đầu tư đền bù bằng công trình khác thay thế tương ứng với tính năng kỹ thuật của công trình đó.
Chương 5
Điều 18
Chủ đầu tư hoặc Ban chỉ đạo do Uỷ ban nhan dân tỉnh thành lập sau khi có quyết định thu hồi đất có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đền bù thiệt hại về đất và tài sản cho tổ chức, cá nhân bị thu hồi; UBND các huyện, thị xã phải tổ chức giải phóng mặt bằng.
Điều 19
Tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi có trách nhiệm kê khai diện tích, hạng đất, vị trí đất, số lượng tài sản, các giấy tờ có liên quan … hiện có trên đất gửi UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.
Tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất nếu thấy việc đền bù thiệt hại không đúng với quy định này thì được quyền khiếu nại theo pháp lệnh khiếu nại, tố cáo.