THÔNG TƯ Của Bộ Tài chính số 48/1998-TT-BTC ngày 11 tháng 4 năm 1998 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 75A/TC-TCT ngày 31/8/1993 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế lợi tức và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức.
Căn cứ Luật thuế lợi tức được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 6 tháng 7 năm 1993
Căn cứ Nghị định số 57/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế lợi tức và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức;
Căn cứ Nghị định số 59/CP ngày 3 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước.
Căn cứ Nghị định số 114/1997/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 1997 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 57/CP ngày 28/8/1993. Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 75A TC/TCT ngày 31/8/1993 như sau: 1. Sửa đổi phần căn cứ tính thuế của Thông tư như sau:
Mục II.2 - Về doanh thu để tính lợi tức chịu thuế.
Mục II.3.a - Chi phí khấu hao tài sản cố định
Mục II.3.c - Chi phí tiền lương, tiền công
Mục II.3.d:
Mục II.6.a - Thuế suất thuế lợi tức:
Điều 1 của Nghị định số 114/1997/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 1997 của Chính phủ về sửa đổi Nghị định số 57/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế lợi tức và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức, được áp dụng như sau:
Đối tượng nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định trên lợi tức chịu thuế cả năm đối với từng nhóm ngành nghề, gồm các cơ sở kinh doanh xác định được lợi tức chịu thuế (trừ hộ kinh doanh nhỏ và hộ buôn chuyến). Cụ thể là:
Thuế suất 25% đối với các ngành:
Sản xuất điện năng;
Khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản, thuỷ sản, khai thác nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
Luyện kim;
Cơ khí chế tạo: máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và vật truyền dẫn;
Sản xuất hoá chất cơ bản, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu;
Sản xuất vật liệu xây dựng;
Xây dựng kể cả khảo sát thiết kế, các dịch vụ giám sát thi công;
Xây dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê trong khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao;
Thuỷ nông;
Vận tải kể cả bốc xếp tại các Cảng, vận chuyển thu gom rác;
Xuất bản báo: Đối với hoạt động quảng cáo trên báo phải hạch toán riêng để nộp thuế lợi tức 45% lợi tức thu được từ hoạt động quảng cáo. Trường hợp hoạt động xuất bản báo bị lỗ thì được bù trừ lợi tức chịu thế của hoạt động quảng cáo trên báo và nộp thuế lợi tức 45% trên số lợi tức chịu thuế còn lại:
Dạy học, dạy nghề;
Sản phẩm nông nghiệp do nông trường, lâm trường trung tâm, trạm trại sản xuất và trực tiếp chế biến sản phẩm tự sản xuất như: trồng mía chế biến thành mật, trồng bông chế biến thành bông hạt, trồng cà phê bóc vỏ rang xay thành bột, chế biến mủ cao su từ mủ nước thành các loại mủ khô sơ chế;
Lãi trái phiếu, tín phiếu kho bạc;
Thuế suất 35% đối với các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, chế biến lương thực và sản xuất khác;
Thuế suất 45% đối với ngành thương nghiệp, ăn uống và dịch vụ các loại;
Các hoạt động sửa chữa có các công việc mang tính chất công nghiệp như sửa chữa phương tiện vận tải, máy móc thiết bị thì căn cứ vào tính chất hoạt động để xếp vào ngành công nghiệp tương ứng.
Ví dụ: Sửa chữa tàu thuỷ, ôtô thì được xếp vào thuế suất 25% của sản xuất phương tiện vận tải.
Các hoạt động sửa chữa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng như sửa chữa điện dân dụng, sửa chữa đồ dùng điện tử, sửa chữa xe đạp, xe máy áp dụng thuế suất dịch vụ khác 45%.
Lợi tức khác được nộp thuế lợi tức theo thuế suất của hoạt động kinh doanh cơ bản. Trường hợp hoạt động kinh doanh cơ bản có áp dụng nhiều thuế suất, thì lợi tức khác được nộp thuế theo thuế suất của ngành nghề có lợi tức chịu thuế chiếm tỷ lệ cao nhất.
Cơ sở kinh doanh hoạt động nhiều nhóm ngành nghề có thuế suất khác nhau phải hạch toán riêng lợi tức chịu thuế của từng ngành nghề và áp dụng thuế suất thuế lợi tức theo từng ngành nghề. Trường hợp cơ sở không hạch toán riêng được lợi tức chịu thế của từng ngành, nghề thì áp dụng thuế suất thuế lợi tức cao nhất của ngành nghề có kinh doanh tính trên tổng số lợi tức chịu thuế của cơ sở.
Mục II.6.b - Thuế suất thuế lợi tức bổ sung:
Điều 6 Nghị định 57/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ quy định tại khoản 4
Điều 1 Nghị định số 114/1997/NĐ-CP ngày 16/12/1997 của Chính phủ thì cơ sở kinh doanh ngoài việc phải nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định như nói trên, nếu có lợi tức chịu thuế vượt trên mức quy định thì phải nộp thuế lợi tức bổ sung như sau:
Doanh nghiệp nhà nước có lợi tức chịu thuế cao phải nộp thuế lợi tức bổ sung. Thuế lợi tức bổ sung tính trên phần lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định của ngành nghề kinh doanh và trích lập 3 quỹ của doanh nghiệp (quỹ khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng).
Thuế suất thuế lợi tức bổ sung được áp dụng:
Thuế suất 30% đối với các ngành khai thác tài nguyên, sản xuất, xây dựng, vận tải.
Thuế suất 40% đối với ngành thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ các loại.
Các cơ sở kinh doanh áp dụng thuế lợi tức bổ sung theo một thuế suất. Trường hợp cơ sở kinh doanh có nhiều ngành nghề thì thuế suất lợi tức bổ sung được tính theo ngành nghề kinh doanh có lợi tức chịu thuế cao nhất.
Căn cứ xác định thuế lợi tức bổ sung:
Thuế lợi tức bổ sung
=
Lợi tức chịu thuế bổ sung
x
Thuế suất bổ sung
Lợi tức chịu thuế bổ sung
=
Lợi tức chịu thuế
Thuế lợi tức phải nộp theo thuế suất ổn
Ba quỹ của định xí nghiệp
Mức trích lập ba quỹ của doanh nghiệp làm căn cứ xác định lợi tức chịu thuế lợi tức bổ sung được quy định như sau:
Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh tính bằng 50% số lợi tức chịu thuế còn lại sau khi đã trừ đi số thuế lợi tức tính theo thuế suất ổn định.
Quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng: tính bằng 3 tháng lương thực hiện của doanh nghiệp trên cơ sở chế độ tiền lương của Chính phủ quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 28/3/1997 về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các DNNN và các văn bản hướng dẫn Nghị định này. + Trường hợp các cơ sở kinh doanh được trích các quỹ chuyên dùng: quỹ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính... thì nguồn trích lấy từ lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức và thuế lợi tức bổ sung.
Lợi tức chia lãi cổ phần lấy từ lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định và thuế suất lợi tức bổ sung.
Ví dụ: Doanh nghiệp X có lợi tức chịu thuế như sau:
Lợi tức chịu thuế (tr.đ)
Thuế suất ổn định (%)
Thuế lợi tức
(tr.đ)
Kinh doanh cung ứng và dịch vụ
2.500
45
1.125
Kinh doanh vận tải
50
25
12,5
Sản xuất khác
80
35
28
Lợi tức khác
120
45
54
Cộng
2.750
1.219,5
Tổng quỹ lương thực tế hợp lý cả năm theo quy định: 864 triệu
Thuế lợi tức theo thuế suất ổn định: 1.219,5 triệu
Các quỹ xí nghiệp
864 tr x 3
[(2.750 tr - 1.219,5 tr) x 50%]
+
=
981,2 triệu.
12
Thuế lợi tức bổ sung phải nộp (theo thuế suất của thương nghiệp dịch vụ).
(2.750 tr - 1.219,5 tr - 981,2 tr) x 40% = 219,7 tr
Tổng cộng số thuế lợi tức phải nộp:
1.219,5 tr + 219,7 tr = 1.439,2 tr
Các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh như Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, kinh tế tập thể có huy động vốn góp từ các cá nhân, tổ chức kinh doanh, đại diện cho vốn góp của tổ chức hoặc tập thể và của các doanh nghiệp Nhà nước, nếu lợi tức chịu thuế bình quân tháng của đầu người góp vốn trên 10 triệu đồng thì thuế lợi tức bổ sung được nộp theo quy định sau:
Thuế lợi tức bổ sung được xác định căn cứ vào lợi tức chịu thuế bổ sung và thuế suất. Lợi tức chịu thuế bổ sung là lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định (-) quỹ đầu tư bằng 50% của lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức. Thuế suất thuế lợi tức bổ sung là 25%.
Ví dụ: Ngân hàng Thương mại cổ phần A có 15 cổ đông trong đó 10 cổ đông tư nhân và 5 cổ đông đại diện cho tổ chức hoặc DNNN, lợi tức chịu thuế năm 1997 là 2.000 triệu, cách tính thuế lợi tức và thuế lợi tức bổ sung như sau:
1. Thuế lợi tức theo thuế suất ổn định:
2.000 tr.đ x 45% = 900 tr.đ
2. Thuế lợi tức bổ sung:
Lợi tức chịu thuế bình quân tháng trên đầu người góp vốn là trên 11 triệu (2.000 tr.đ: 15 cổ đông x 12 tháng). Vì vậy phải nộp thuế lợi tức bổ sung như sau:
Lợi tức còn lại sau khi nộp thuế lợi tức:
2.000 tr.đ - 900 tr.đ = 1.100 tr.đ
Quỹ đầu tư được trừ khi tính thuế lợi tức bổ sung:
1.100 tr.đ x 50% = 550 tr.đ
Thuế lợi tức bổ sung:
(1.100 tr - 550 tr) x 25% = 137,5 tr.đ
Tổng số thuế phải nộp:
900 tr.đ + 137,5 tr.đ = 1.037,5 tr.đ
Cách xác định số thuế lợi tức phải nộp như trên chỉ áp dụng để tính thuế lợi tức bổ sung cho tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh.
Công ty tư nhân, hộ tư nhân kinh doanh nếu có lợi tức chịu thuế bình quân tháng trên 10 triệu đồng thì phần lợi tức chịu thuế vượt trên 10 triệu đồng phải nộp thuế lợi tức bổ sung 25%.
4. Bổ sung vào cuối điểm 4
Mục IV kê khai, nộp thuế, thu thuế của Thông tư như sau: