THÔNG TƯ Hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp của ngân sách Nhà Nước đầu tư cho ngành Phát thanh - Truyền hình Để tăng cường quản lý tài chính của hệ thống Phát thanh - Truyền hình trong cả nước.
Căn cứ vào các Nghị định số 52/CP , 53/CP ngày 16/8/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt nam và Đài Tiếng nói Việt nam,
sau khi có sự thoả thuận của Đài Tiếng nói Việt nam (Công văn số 69/ĐFT ngày 04/02/1994) và của Đài Truyền Việt nam (Công văn số 40/THVN ngày 31/1/1994), Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp của Ngân sách Nhà nước đầu tư cho hệ thống phát thanh - Truyền hình như sau: I - QUY ĐỊNH CHUNG: 1/ Hàng năm, Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền Việt nam phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước xây dựng kế hoạch Ngân sách toàn ngành phát thanh và truyền hình bao gồm: Ngân sách các Đài Trung ương và các Đài phát thanh - Truyền hình địa phương để trình Chính phủ. 2/ Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền Việt nam và các Đài phát thanh truyền hình địa phương có trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí đầu tư cho sự nghiệp phát thanh-Truyền hình và báo cáo tình hình sử dụng các nguồn kinh phí đó cho Bộ Tài chính và Sở Tài chính-Vật giá để theo dõi cấp phát và kiểm tra. Mọi khoản thu, chi của sự nghiệp phát thanh- Truyền hình phải được quản lý và phản ánh vào hệ thống Ngân sách Nhà nước. 3/
Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Ngân sách Nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định và Chính phủ thông báo, Ngành Tài chính cấp phát đầy đủ và kịp thời kinh phí cho Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam và các đài Phát thanh - Truyền hình các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các trạm phát thanh - truyền hình quận, huyện. Riêng đối với các khoản chi theo chương trình mục tiêu của ngành phát thanh - truyền hình (nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) do Ngân sách Trung ương quản lý thì trên cơ sở kế hoạch đã thống nhất phân phối từ đầu năm giữa Đài tiếng nói Việt nam, Đài truyền hình Việt nam với Bộ Tài chính và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính sẽ cấp phát cho Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền Việt nam, Các Bộ, cơ quan Trung ương (nếu có) và cấp uỷ quyền cho Sở Tài chính - Vật giá địa phương (phần kinh phí phân bổ cho địa phương thực hiện). 4/ Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam phối hợp với Bộ Tài chính cùng nghiên cứu xây dựng các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu tài chính đối với các hoạt động sự nghiệp phát thanh - truyền hình để thống nhất quản lý tài chính trong toàn quốc. II- NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ: 1/ Ngân sách sự nghiệp của Phát thanh - Truyền hình được ghi thành một nội dung trong Ngân sách Nhà nước, bao gồm: a- Thu sự nghiệp: Các khoản thu sự nghiệp từ các hoạt động sản xuất, dịch vụ (lệ phí xem truyền hình, quảng cáo và kỹ thuật), viện trợ, hợp tác trao đổi quốc tế và các khoản thu khác về phát thanh truyền hình. b- Chi sự nghiệp bao gồm: + Chi sự nghiệp phát thanh. + Chi sự nghiệp Truyền hình. 2/ Công tác lập và giao kế hoạch Ngân sách Phát thanh - Truyền hình: Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn về lập kế hoạch knh tế - xã hội của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, các văn bản hướng dẫn lập kế hoạch thu, chi Ngân sách của Bộ Tài chính và kế hoạch phát triển kỹ thuật phát thanh - truyền hình của Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền Việt nam các cơ quan tiến hành lập kế hoạch Ngân sách phát thanh- truyền hình như sau: a/ Ở địa phương: Các đài Phát thanh - Truyền hình lập kế hoạc thu, chi Ngân sách phát thanh - truyền hình, bao gồm: phần do đài tỉnh trực tiếp quản lý và phần do cấp huyện, quận, thị xã quản lý, trường hợp các địa phương có đài phát thanh và đài truyền hình riêng thì lập kế hoạch của từng đài gửi cho Sở Tài chính - Vật giá để xem xét tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt và gửi cho Đài Tiếng nói Việt nam (phần kế hoạch phát thanh), Đài Truyền Việt nam (phần kế hoạch truyền hình) để tổng hợp gửi cho Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước. b/ Ở Trung ương: Đài tiếng nói Việt nam, Đài truyền hình Việt nam lập kế hoạch thu, chi Ngân sách thuộc hai đài trực tiếp quản lý và tổng hợp kế hoạch thu chi Ngân sách toàn hệ thống phát thanh, truyền hình gửi Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước theo quy định để xem xét, cân đối tổng hợp vào dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nước trình Chính phủ để trình Quốc hội quyết định. Kế hoạch Phát thanh - Truyền hình phải thể hiện kế hoạch thu, chi của từng tỉnh, thành phố và của các đài Trung ương. 3/ Cấp phát và quản lý Ngân sách ngành phát thanh và truyền hình. a/ Ở Trung ương :
Căn cứ vào kế hoạch thu, chi Ngân sách Phát thanh - Truyền hình Trung ương đã được Chính phủ thông báo, Đài tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam chịu trách nhiệm phân bổ và giao nhiệm vụ thu, chi Ngân sách cho các đơn vị trực thuộc theo các định mức chi tiêu, chế độ tài chính và mục lục Ngân sách Nhà nước hiện hành, theo khối lượng công việc được giao trong năm. Bộ Tài chính cấp kinh phí thường xuyên cho Đài Tiếng nói Việt nam, Đài truyền hình Việt nam theo tiến độ hàng tháng. Riêng các khoản chi mua sắm, sửa chữa Bộ Tài chính sẽ cấp phát sau khi có dự toán, thiết kế cụ thể được cấp có thẩm quyền duyệt (phải có hợp đồng hoặc báo giá và phải được dự kiến trong kế hoạch quý, năm). Đối với chi trả tiền cước phát sóng, Bộ Tài chính căn cứ vào hợp đồng, hoá đơn đòi tiền và văn bản đề nghị của Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam để cấp phát. b/ Ở Địa phương:
Căn cứ vào kế hoạch thu, chi Ngân sách phát thanh - truyền hình Chính phủ thông báo cho địa phương, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh phối hợp cùng Sở tài chính - Vật giá phân bổ cho các đơn vị trực thuộc Đài (đài trực tiếp quản lý) và các quận, huyện, thị xã để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt.
Sau khi Uỷ ban Tỉnh, Thành phố phê duyệt, cơ quan Tài chính - Vật giá địa phương có trách nhiệm cấp phát kinh phí thường xuyên cho các Đài phát thanh - truyền hình tỉnh và các quận, huyện, thị xã. Riêng các khoản mua sắm, sửa chữa được cơ quan tài chính cấp phát trên cơ sở thiết kế, dự toán cụ thể và phải có hợp đồng, báo giá và được bố trí trong kế hoạch quý, năm. c/ Việc cấp phát kinh phí thuộc Ngân sách Trung ương theo chương trình mục tiêu (nếu có) được thực hiện như sau: - Đối với Đài tiếng nói Việt nam, Đài truyền hình Việt nam Bộ Tài chính vẫn thực hiện chế độ cấp phát theo hình thức "Thông báo hạn mức kinh phí". Còn đối với các Bộ, cơ quan Trung ương (nếu được phân bổ kinh phí chi cho chương trình mục tiêu) Bộ Tài chính sẽ cấp phát trực tiếp cho các Bộ, cơ quan Trung ương tuỳ trường hợp cụ thể có thể cấp kinh phí theo hình thức " Thông báo hạn mức kinh phí " hoặc cấp phát theo hình thức " Thông tri duyệt y dự toán". - Đối với địa phương: Bộ Tài chính sẽ cấp phát kinh phí theo hình thức "Kinh phí uỷ quyền" cho Sở Tài chính - Vật giá theo quy định tại Thông tư số 80/TC-NSNN ngày 24 tháng 9 năm 1993 của Bộ Tài chính" Hướng dẫn cấp phát và quản lý khoản kinh phí uỷ quyền của NSNN chuyển về địa phương" để cấp lại cho các đài Phát thanh - Truyền hình được giao thực hiện các chương trình mục tiêu doTrung ương thông báo. 4/ Chế độ quyết toán và báo cáo quyết toán Ngân sách hàng quý, năm: a/ Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam và các đài Phát thanh - Truyền hình địa phương, các Bộ, cơ quan Trung ương được phân bổ khoản chi thường xuyên và chương trình mục tiêu (nếu có) phải tổ chức công tác hạch toán kế toán theo Quyết định số 257 - TC/CĐKT ngày 01/06/1990 của Bộ Tài chính. b/ Việc xét duyệt, thẩm tra quyết toán hàng năm thực hiện theo quy định tại Thông tư số 14 - TC/HCVX ngày 28/2/1994 của Bộ Tài chính " Hướng dẫn xét duyệt quyết toán năm cho các đơn vị Hành chính - Sự nghiệp". c/ Đối với các khoản chi cho chương trình mục tiêu (nếu có) do Bộ Tài chính cấp phát kinh phí thì việc lập, xét duyệt, tổng hợp báo cáo quyết toán theo đúng quy định tại Thông tư số 80 - TC/NSNN ngày 24/9/1993. d/ Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Truyền hình Việt nam, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Sở Tài chính - Vật giá các địa phương để kiểm tra việc sử dụng và quản lý Ngân sách chi cho phát thanh và Truyền hình theo chế độ Nhà nước quy định. III. - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH: Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh hoặc có khó khăn thì các Bộ, địa phương phản ánh về Bộ Tài chính để bổ sung sửa đổi kịp thời ./.