THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành một số điểm về chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2004
Căn cứ Nghị quyết số 17/2003/QH11 ngày 04/11/2003 của Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 4 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2004
Căn cứ Nghị quyết số 18/2003/QH11 ngày 10/11/2003 của Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 4 về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2004;
Căn cứ Nghị quyết số 423/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 12/11/2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương năm đầu thời kỳ ổn định;
Căn cứ Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2004; Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004 như sau: I- VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC : 1- Nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Trong phạm vi nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách địa phương được phân cấp, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là cấp tỉnh) quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Từ năm ngân sách 2004, toàn bộ các khoản thu, chi thuộc ngân sách cấp xã được quản lý, hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước từ khâu lập dự toán đến khâu quyết toán ngân sách. 2- Thời kỳ ổn định ngân sách địa phương là 3 năm, từ năm ngân sách 2004 đến hết năm ngân sách 2006. Trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương thực hiện: ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các nguồn thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; ổn định số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương (nếu có); địa phương sử dụng nguồn thu được hưởng theo phân cấp và số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương (nếu có) để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương đã được phân cấp. 3- Đối với khoản thu thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá, dịch vụ trong nước, phí xăng dầu phát sinh và phải nộp ngân sách trong năm 2003 theo chế độ quy định, ngân sách Trung ương hưởng 100%. Các khoản thu thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá, dịch vụ trong nước, phí xăng dầu nộp ngân sách từ ngày 01/01/2004 theo đúng chế độ quy định, thực hiện phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương theo tỷ lệ phần trăm (%) đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17/11/2003. 4- Từ năm 2004, bỏ cơ chế cấp lại, đầu tư trở lại toàn bộ hoặc một phần từ các nguồn thu phát sinh trên địa bàn hoặc các khoản thu do các doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước cho Bộ, cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Tổng công ty nhà nước và các đơn vị. Đối với các công trình, dự án, nhiệm vụ quan trọng trước đây được cấp lại, đầu tư trở lại, đang thực hiện cần tiếp tục đầu tư; năm 2004 các Bộ, cơ quan Trung ương, các Tổng công ty tổ chức thực hiện trong phạm vi dự toán ngân sách; các địa phương thực hiện trong dự toán số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương Thủ tướng Chính phủ đã giao. Riêng nguồn thu sử dụng đất thực hiện cơ chế cân đối trong ngân sách địa phương để đầu tư hạ tầng, giải phóng mặt bằng cho đầu tư phát triển, không cân đối nguồn thu này cho nhiệm vụ chi thường xuyên. 5- Chuyển phương thức cân đối ngân sách và hình thức cấp phát kinh phí uỷ quyền sang hình thức bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương đối với các nhiệm vụ trợ cước, trợ giá các mặt hàng chính sách, chuẩn bị động viên, chương trình biển đông - hải đảo. Đối với kinh phí trợ cước, trợ giá và cấp không thu tiền một số mặt hàng chính sách, căn cứ mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và kinh phí cân đối trong dự toán ngân sách địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội động nhân dân quyết định mục tiêu, nội dung thực hiện (mặt hàng, sản phẩm, định mức hỗ trợ, địa bàn, đối tượng được hưởng trợ cước, trợ giá và cấp không thu tiền một số mặt hàng chính sách) cho phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương, báo cáo Bộ Tài chính, Uỷ ban Dân tộc biết để theo dõi chỉ đạo quá trình tổ chức thực hiện. II- VỀ CĂN CỨ, YÊU CẦU, NỘI DUNG PHÂN BỔ VÀ GIAO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC : 1- Về phân bổ, giao dự toán thu ngân sách nhà nước :
Căn cứ các Luật thuế, các chế độ chính sách thu, các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh của nhà nước; mức tăng trưởng kinh tế của từng ngành, từng lĩnh vực, khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ cụ thể của các tổ chức, cá nhân; yêu cầu thực hiện các biện pháp đấu tranh chống thất thu, gian lận thương mại. Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai giao nhiệm vụ thu cho các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp dưới đảm bảo bằng và phấn đấu cao hơn mức dự toán thu năm 2004 Thủ tướng Chính phủ đã giao, Bộ Tài chính đã hướng dẫn. 2- Về phân bổ, giao dự toán chi ngân sách nhà nước . a) Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, khi phân bổ, giao dự toán chi cho các cơ quan, đơn vị phải khớp đúng dự toán chi được Thủ tướng Chính phủ giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi; ưu tiên đối với những nhiệm vụ quan trọng theo quy định của pháp luật; đảm bảo vốn đối với những nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ đã quyết định; phân bổ dự toán chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng thủ tục theo quy định của pháp luật. b) Năm 2004, các Bộ, cơ quan Trung ương, các địa phương khi phân bổ, giao dự toán chi xây dựng cơ bản phải thực hiện đúng những quy định về quản lý vốn đầu tư xây dựng, đảm bảo yêu cầu sau: Dành một phần vốn đầu tư từ ngân sách năm 2004 được giao để thanh toán số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn ngân sách nhà nước từ năm 2003 trở về trước; trả nợ các khoản nợ vay tín dụng ưu đãi để thực hiện chương trình kiến cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng làng nghề, hạ tầng thuỷ sản; bố trí vốn để thực hiện những dự án quan trọng chuyển tiếp, vốn đối ứng cho các công trình, dự án ODA; sau khi ưu tiên bố trí vốn để thực hiện những nhiệm vụ trên mới bố trí vốn đối với những dự án, công trình khởi công mới. Các dự án được bố trí phải phù hợp với quy hoạch, đảm bảo đầy đủ thủ tục đầu tư, không vượt quá mức dự toán được giao; Bố trí các dự án nhóm B từ khởi công đến khi hoàn thành tối đa là 4 năm, các dự án nhóm C tối đa là 2 năm. c) Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi phân bổ, giao dự toán 2004 đảm bảo những yêu cầu chủ yếu sau: - Dự toán chi phân bổ cho các cơ quan, đơn vị và cấp dưới đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề và khoa học công nghệ (bao gồm cả chi đầu tư phát triển và thường xuyên) không được thấp hơn mức dự toán Thủ tướng Chính phủ giao. Đơn vị dự toán cấp trên phân bổ, giao dự toán chi cho các đơn vị cấp dưới phải khớp đúng dự toán chi được Uỷ ban nhân dân giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi. - Bố trí kinh phí thực hiện những nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, trong đó tập trung ưu tiên đảm bảo thực hiện những quyết định quan trọng sau: + Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên; Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. + Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày 07/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005. + Quyết định số 173/2001/QĐ-TTg ngày 06/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001 - 2005. + Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010. + Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 5/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002 - 2010”. + Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thực hiện
Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học.
Phần IV, Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính. Trường hợp đặc biệt, mất cân đối tạm thời trong quý về nguồn ngân sách trong việc đảm bảo những yêu cầu chi tiêu trong dự toán của đơn vị thì phải đảm bảo kinh phí hoạt động bình thường của đơn vị, chỉ thực hiện tạm giãn, hoãn chi đối với chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn, nhưng phải thông báo mức giảm, hoãn chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn đối với cơ quan chủ quản (theo mẫu số 6 đính kèm); cơ quan chủ quản thông báo tới đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Đồng thời, để chủ động đảm bảo nguồn ở từng cấp ngân sách trong chi tiêu, năm 2003 chủ động dành tồn quỹ để gối đầu cho đầu năm 2004.
Điều 54 và
Điều 57 của Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước), thì đơn vị dự toán cấp I quyết định giao bổ sung dự toán ngân sách cho đơn vị trực thuộc (theo mẫu số 3 a, 3 b và 3 c đính kèm).
5- Về quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi đầu tư cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng để phát triển hạ tầng từ nguồn thu sử dụng đất :
Địa phương chủ động tổ chức thực hiện chi đầu tư theo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thu sử dụng đất. Số thu sử dụng đất nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước theo chương, loại, khoản, hạng, mục tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước quy định; khi thực hiện nhiệm vụ chi đầu tư cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng thực hiện theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện hạch toán kế toán theo chế độ; cuối năm khi số thu sử dụng đất còn dư thực hiện chuyển nguồn sang năm sau để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đầu tư phát triển hạ tầng theo quy định.
6- Về phương thức chuyển số bổ sung từ ngân sách Trung ương cho ngân sách cho địa phương :
Căn cứ số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương năm 2004 đã được Thủ tướng Chính phủ giao. Bộ Tài chính thực hiện cấp hàng tháng trước ngày 25 tháng trước; đối với những địa phương thu, chi ngân sách có tính chất thời vụ, không đều trong năm, Bộ Tài chính sẽ căn cứ tiến độ thực hiện nhiệm vụ thu, chi để xác định số bổ sung cân đối hàng tháng cho phù hợp thực tế địa phương; đối với bổ sung có mục tiêu sẽ chuyển vốn cho địa phương theo yêu cầu thực hiện của mục tiêu đã được quy định. Riêng đối với vốn chuẩn bị động viên và chương trình biển đông - hải đảo thực hiện cấp tạm ứng vốn theo chế độ quy định và sau khi địa phương báo cáo kết quả khối lượng thực hiện sẽ cấp thanh toán.
7- Về quản lý chi xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu :
Cơ quan tài chính thực hiện ứng vốn từ cuối năm 2003 cho các công trình, dự án theo đúng quy định, ưu tiên cho các dự án, công trình quan trọng đang thực hiện, các công trình tu bổ đê điều, thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, khắc phục lũ lụt, trồng rừng.
Tổ chức quản lý, cấp phát thanh toán vốn đầu tư đầy đủ, kịp thời theo chế độ quy định; đối với những dự án không thực hiện theo đúng tiến độ, báo cáo cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, chuyển vốn cho những dự án có tiến độ triển khai nhanh, có khả năng hoàn thành nhưng chưa được bố trí đủ vốn nhằm sớm hoàn thành đưa công trình vào sử dụng.
Thực hiện quyết toán vốn đầu tư theo hướng dẫn tại Thông tư số 45/2003/TT - BTC ngày 15/5/2003 của Bộ Tài chính.
8- Về huy động vốn để đầu tư hạ tầng đối với ngân sách địa phương cấp tỉnh :
Trường hợp ngân sách cấp tỉnh có nhu cầu huy động vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng thì được phép huy động vốn đầu tư trong nước, đảm bảo mức dư nợ từ các nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh, không kể vốn đầu tư bổ sung theo mục tiêu không có tính chất ổn định thường xuyên từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương. Nguyên tắc, quy trình, thẩm quyền,.. thực hiện theo quy định tại điều 26 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước.
9- Tổ chức điều hành dự toán ngân sách nhà nước khi tăng, giảm thu thực hiện theo nguyên tắc :
a) Đối với ngân sách Trung ương:
Khi số thu ngân sách Trung ương vượt so với dự toán, số vượt dự toán thu sử dụng tối thiểu 50% để thực hiện cải cách tiền lương; số còn lại bổ sung dự phòng ngân sách để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ bức thiết về quốc phòng, an ninh, giảm bội chi ngân sách nhà nước, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, tăng quỹ dự trữ tài chính và nhiệm vụ quan trọng cấp bách khác.
Trường hợp số thu không đạt dự toán đã được Quốc hội quyết định, Chính phủ tổ chức xây dựng phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh giảm một số khoản chi tương ứng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
b) Đối với ngân sách địa phương:
Khi số thu phần ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp vượt so với dự toán, số tăng thu này (không kể số tăng thu sử dụng đất) sử dụng tối thiểu 50% để thực hiện cải cách tiền lương; số còn lại thực hiện bổ sung dự phòng ngân sách để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai hoả hoạn, nhiệm vụ bức thiết về quốc phòng, an ninh, tăng chi trả nợ, tăng đầu tư phát triển, tăng quỹ dự trữ tài chính và các nhiệm vụ quan trọng cấp bách khác. Uỷ ban nhân dân xây dựng phương án sử dụng số tăng thu ngân sách địa phương thống nhất ý kiến với Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp trước khi thực hiện; báo cáo Hội đồng nhân dân kết quả thực hiện tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp số thu không đạt dự toán đã được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân xây dựng phương án điều chỉnh giảm chi tương ứng, tập trung cắt giảm hoặc giãn, hoãn những nhiệm vụ chưa thực sự cấp thiết báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
10- Về thưởng vượt thu :
Khi số thu ngân sách Trung ương từ các khoản thu phân chia vượt so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao, sẽ thực hiện thưởng vượt thu cho địa phương. Mức thưởng bằng 30% của số tăng thu nộp ngân sách Trung ương vượt dự toán năm 2004 nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm 2003. Đối với những địa phương năm 2003 chưa có số nộp về ngân sách Trung ương từ các khoản thu phân chia thì được thưởng bằng 30% của số tăng thu nộp về ngân sách Trung ương vượt dự toán năm 2004.
a) Việc xét thưởng vượt thu thực hiện theo nguyên tắc:
Số vượt thu tính trên tổng thể các khoản thu phân chia, không tính riêng từng khoản và sau khi đã loại trừ số thu thực hiện ở các địa bàn khác nhưng hạch toán thu tại địa phương.
Căn cứ kết quả thu nộp ngân sách đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2004, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổng hợp số thực nộp ngân sách Trung ương từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương chi tiết theo từng sắc thuế, lĩnh vực thu gửi Bộ Tài chính làm cơ sở xét thưởng, báo cáo được gửi về Bộ Tài chính trước ngày 31 tháng 01 năm 2005 và có xác nhận của Kho bạc nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
b) Căn cứ vào mức tiền thưởng được thông báo, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập phương án sử dụng nguồn tiền thưởng báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định để bổ sung vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhiệm vụ quan trọng khác của địa phương, thưởng cho ngân sách cấp dưới và hạch toán, quyết toán theo quy định tại Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính.
11- Về việc quản lý, sử dụng dự phòng ngân sách :
Dự phòng ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được sử dụng để phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán. Trường hợp thiên tai, hoả hoạn trên phạm vi rộng với mức độ nghiêm trọng vượt quá khả năng ngân sách của các địa phương, sau khi địa phương đã sử dụng dự phòng ngân sách, một phần quỹ dự trữ tài chính nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu, Trung ương thực hiện hỗ trợ cho địa phương để thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn.
Định kỳ hàng quý Uỷ ban nhân dân báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân kết quả sử dụng dự phòng ngân sách địa phương và báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất.
12- Về chi trả, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản và trích nộp kinh phí công đoàn : Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn riêng.
13- Về thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và công khai tài chính, ngân sách nhà nước :
Thực hiện đầy đủ các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí theo Pháp lệnh tiết kiệm, chống lãng phí; Pháp lệnh chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn; mọi khoản chi tiêu, mua sắm trang thiết bị, tài sản phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức nhà nước quy định; nghiêm cấm sử dụng ngân sách nhà nước tiếp khách, biếu, thưởng,..trái chế độ quy định. Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước đúng mục đích, đúng chế độ, hiệu quả và tiết kiệm. Kho bạc nhà nước thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chi ngân sách nhà nước đảm bảo sử dụng ngân sách đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách, đúng dự toán. Cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước các cấp theo chức năng, nhiệm vụ được giao có kế hoạch tổ chức thanh tra, kiểm tra việc sử dụng tài chính ngân sách ở các đơn vị sử dụng ngân sách; xử lý nghiêm và kịp thời các vi phạm đã được các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán kết luận. Định kỳ tổng hợp báo cáo kết quả xử lý với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Uỷ ban nhân dân tại kỳ họp gần nhất. Tăng cường công tác giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân đối với các khoản thu, chi ngân sách nhà nước, các khoản huy động, sử dụng nguồn đóng góp nhân dân, thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ ở cơ sở.
Thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp, các đơn vị đối với dự toán ngân sách năm 2004 được giao và quyết toán ngân sách năm 2003 của đơn vị và cấp mình theo chế độ quy định.
14- Thực hiện cơ chế tài chính đối với toàn bộ các đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ; mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
15- Tổ chức thực hiện những ưu đãi về tín dụng, đất đai, về chế độ bảo hiểm xã hội, ... đã được quy định, đẩy mạnh công tác xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao,... nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, những địa bàn có điều kiện.
16- Thực hiện đúng chế độ báo cáo và thông tin theo quy định tại Quyết định số 130/2003/QĐ-BTC ngày 18/8/2003 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ kho bạc nhà nước, đảm bảo cung cấp, trao đổi thường xuyên, kịp thời giữa cơ quan tài chính, cơ quan kho bạc và các cơ quan liên quan.
17- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đối với cán bộ quản lý tài chính, chú trọng cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) đủ năng lực thực hiện chức năng tham mưu và quản lý tài chính ngân sách xã và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực thi hành trong năm ngân sách 2004. Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào Thông tư này để tổ chức hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và các cấp chính quyền địa phương thực hiện; trong quá trình thực hiện có những vướng mắc khó khăn đề nghị phản ảnh về Bộ Tài chính để có hướng dẫn giải quyết kịp thời./.