THÔNG TƯ Hướng dẫn các khoản thu ngân sách Nhà nước đối với hoạt động cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê nhà tại Việt Nam
Căn cứ Nghị định số 56/CP ngày 18 tháng 9 năm 1995 của Chính phủ ban hành Quy chế cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê nhà tại Việt Nam
Căn cứ các Luật thuế, Pháp lệnh thuế hiện hành;
Căn cứ Quyết định số 276/CT ngày 28 tháng 7 năm 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí; Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản thu Ngân sách Nhà nước đối với hoạt động cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là người nước ngoài) thuê nhà tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 56/CP ngày 18/9/1995 của Chính phủ như sau: I. PHẠM VI ÁP DỤNG. Thông tư này áp dụng đối với: 1) Các đối tượng dưới đây được phép cho người nước ngoài thuê nhà để ở, đặt trụ sở văn phòng đại diện, chi nhánh công ty hoặc cơ sở hoạt động kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 56/CP ngày 18/9/1995: Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nhà được thành lập và hoạt động theo pháp luật, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Các doanh nghiệp khác và các tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật, có nhà thuộc sở hữu của mình và có quyền sử dụng đất hợp pháp; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có nhà thuộc sở hữu của mình và có quyền sử dụng đất hợp pháp. 2) Các đối tượng được phép hành nghề hoạt động dịch vụ, môi giới cho người nước ngoài thuê nhà quy định tại Nghị định của Chính phủ số 56/CP ngày 18/9/1995. Các đối tượng dưới đây không được phép cho người nước ngoài thuê nhà: Các cơ quan Nhà nước, các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị, xã hội và công dân Việt Nam, không được phép cho thuê trụ sở và nhà ở thuộc sở hữu của nhà nước mà mình đang được phép quản lý hoặc sử dụng. - Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang trong thời gian chấp hành án, hoặc chưa được xoá án. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ CÁC KHOẢN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Về lệ phí. a) Mức thu lệ phí: Bên cho thuê nhà hoặc người được uỷ quyền hợp pháp, muốn cho người nước ngoài thuê nhà phải xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép về hoạt động cho người nước ngoài thuê nhà. Mỗi khi xin cấp giấy phép, xin gia hạn giấy phép, phải nộp cho Nhà nước một khoản lệ phí cấp giấy phép cho thuê nhà theo mức thu dưới đây: Mức thu lệ phí cấp một giấy phép cho thuê nhà là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng); Mức thu lệ phí mỗi lần gia hạn một giấy phép cho thuê nhà là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). b) Chế độ quản lý, sử dụng lệ phí cấp giấy phép: Lệ phí cấp giấy phép cho người nước ngoài thuê nhà là khoản thu của Ngân sách Nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đảm nhận thu đồng thời với việc cấp giấy phép. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho các hoạt động cho người nước ngoài thuê nhà phải đăng ký với Cục thuế địa phương để nhận sổ sách kế toán, chứng từ thu do Bộ Tài chính phát hành và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo hướng dẫn của cơ quan thuế. Khi thu lệ phí cơ quan thu lệ phí phải cấp biên lai cho người nộp. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép và thu lệ phí tạm thời được giữ lại 30% (ba mươi phần trăm) số lệ phí thu được để chi cho các công việc sau: Thẩm định các hồ sơ xin cấp giấy phép về hoạt động cho người nước ngoài thuê nhà (bao gồm cả việc lập hồ sơ thẩm định, tổ chức thẩm định, lấy ý kiến của các cơ quan liên quan như: an ninh, môi trường...); In giấy phép, mẫu biểu hồ sơ; Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc tuân thủ quy chế cho thuê nhà của bên cho thuê nhà, bên thuê nhà và doanh nghiệp dịch vụ trên địa bàn; Chi bồi dưỡng, chi thưởng cho những cán bộ công nhân viên có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức thu lệ phí; mức chi một năm một người tối đa không quá 3 tháng lương cơ bản theo chế độ hiện hành của Nhà nước. Các khoản chi trên phải đúng chế độ tài chính hiện hành và có chứng từ hợp lệ. Số lệ phí còn lại sau khi được tạm giữ lại theo tỷ lệ nêu trên, cơ quan thu lệ phí phải nộp toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước. Định kỳ vào ngày 5 hàng tháng, căn cứ vào chứng từ thu tiền, đơn vị thu lệ phí có trách nhiệm lập bảng kê, chứng từ và nộp số tiền thu được của tháng trước vào Ngân sách tại Kho bạc Nhà nước,
Mục 35 theo
Chương - Loại - Khoản - Hạng tương ứng. Trường hợp tổng số tiền thu được vượt quá 20 triệu đồng thì mặt dù chưa đến kỳ hạn nộp, cơ quan thu phí vẫn phải lập bảng kê, chứng từ, nộp ngay vào Ngân sách Nhà nước, không phải đợi đến ngày 5 tháng sau.
Điều 4 của bản Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 56/CP ngày 18/9/1995, doanh nghiệp dịch vụ không được thu phí uỷ thác cao hơn 2% giá trị hợp đồng quy định tại
Điều 7 của bản Quy chế.
b) Trường hợp bên có nhà cho thuê đi thuê dịch vụ để thực hiện một hoặc một số phần việc trong toàn bộ các hoạt động về cho người nước ngoài thuê nhà như: xin cấp giấy phép, tìm khách thuê nhà, ký hợp đồng thuê nhà...; hoặc trường hợp làm dịch vụ cho đối tượng đi thuê nhà, cơ quan làm dịch vụ được phép thu phí dịch vụ. Phí dịch vụ thu cho mỗi hoạt động dịch vụ trong một lần dịch vụ được phép thu theo mức giá tự thoả thuận giữa hai bên (bên cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ), nhưng không được vượt quá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Khi thu phí dịch vụ hoặc phí uỷ thác, đơn vị thu phải cấp hoá đơn thanh toán cho người nộp. Đối với bên có nhà cho thuê, hoá đơn này là chứng từ để xác định chi phí hoạt động cho thuê nhà.
3. Về nghĩa vụ thực hiện các loại thuế.
Bên cho thuê nhà và các doanh nghiệp dịch vụ có hoạt động kinh doanh về cho người nước ngoài thuê nhà phải xuất trình giấy phép, hợp đồng cho thuê nhà, đăng ký, kê khai với cơ quan thuế địa phương (nơi có nhà cho thuê) nộp các loại thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có) vào Ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
a) Thuế môn bài:
Bên có nhà cho thuê và các doanh nghiệp dịch vụ phải nộp thuế môn bài theo quy định pháp luật về thuế môn bài. Trường hợp trong năm đầu mới ra kinh doanh mà thời điểm ra kinh doanh vào 6 tháng cuối năm thì trong năm đó phải nộp 50% (năm mươi phần trăm) số thuế môn bài cả năm.
b) Thuế nhà, đất; tiền thuê đất.
Tổ chức, cá nhân có nhà cho thuê phải nộp thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế nhà, đất. Nếu là trường hợp thuê đất của Nhà nước thì phải nộp tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về tiền thuê đất hiện hành. Trường hợp chủ nhà uỷ quyền cho người khác cho thuê nhà thì người được uỷ quyền (theo đoạn 2
Điều 4 của bản Quy chế bán hành kèm theo Nghị định 56-CP) phải nộp thuế nhà đất hoặc nộp tiền thuê đất theo quy định của pháp luật.
c) Thuế doanh thu:
Bên cho thuê nhà phải nộp thuế doanh thu hàng tháng là 10% (mười phần trăm) trên doanh thu chịu thuế. Doanh thu chịu thuế là toàn bộ số tiền thu về cho người nước ngoài thuê nhà ghi trong hợp đồng thuê nhà. Trường hợp giá ghi trong hợp đồng thuê nhà thấp hơn mức giá tính thuế áp dụng tại địa phương do Bộ Tài chính quy định (bản quy định kèm theo thông tư này) thì doanh thu chịu thuế tính theo giá tính thuế áp dụng tại địa phương do Bộ Tài chính quy định.
Trường hợp bên đi thuê nhà trả bằng ngoại tệ chuyển đổi, doanh thu chịu thuế phải được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm nộp thuế.
Nếu người thuê nhà trả tiền thuê trước cho nhiều tháng, nhiều năm, doanh thu chịu thế là toàn bộ số tiền người thuê đã trả trước, bao gồm cả số tiền chi sửa chữa, xây dựng lại nhà... do người thuê trả (nếu có). Trường hợp trong thời gian thuê có điều chỉnh tăng giá cho thuê nhà thì doanh thu chịu thuế được tính lại theo giá mới từ thời điểm điều chỉnh giá trở đi.
Doanh nghiệp dịch vụ, môi giới phải nộp thuế doanh thu hàng tháng là 15% (mười lăm phần trăm) trên doanh thu chịu thuế. Doanh thu chịu thuế là toàn bộ số tiền thu về hoạt động dịch vụ, môi giới cho người nước ngoài thuê nhà theo hợp đồng.
d. Thuế lợi tức:
a) Đối với các doanh nghiệp được phép cho người nước ngoài thuê nhà, doanh nghiệp dịch vụ phải hạch toán rõ ràng, chính xác kết quả hoạt động cho thuê nhà, kết quả hoạt động dịch vụ, tạm nộp thuế lợi tức hàng tháng, thanh quyết toán thuế lợi tức cả năm theo đúng các quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế lợi tức theo hướng dẫn của cơ quan thuế trực tiếp quản lý.
Trường hợp tiền cho thuê nhà được thanh toán trước cho nhiều năm, nộp thuế doanh thu một lần theo quy định tại điểm 3.c nêu trên, khi quyết toán năm, lợi tức chịu thuế được xác định như sau:
Tổng Thuế doanh Chi phí hợp
Lợi tức doanh thu thu đã nộp lý, hợp lệ
chịu thuế = - của năm
hàng năm Số năm đã trả tiền quyết toán
Ví dụ: Năm 1966 Công ty kinh doanh nhà Quận A có hoạt động cho thuê nhà, theo hợp đồng ký kết với bên đi thuê là:
Thời gian thuê 10 năm.
Giá cho thuê quy đổi ra đồng Việt Nam theo hợp đồng là 30 triệu đồng/năm.
Điều khoản thanh toán trong hợp đồng: Bên đi thuê thanh toán 150 triệu đồng sau khi ký hợp đồng (trả trước 5 năm).
. Chi phí hợp lý, hợp lệ của hoạt động cho thuê nhà phân bổ cho 1 năm; 10 triệu đồng.
. Thuế doanh thu đã nộp năm 1966 (nộp 1 lần cho 5 năm) là:
150 Tr.đ x 10% = 15 triệu đồng
Lợi tức chịu thuế hàng năm theo công thức là:
150 Tr.đ - 15 Tr.đ
10 Tr.đ = 17 Tr.đ
5 năm
b) Đối với các cá nhân, tổ chức (không phải là doanh nghiệp) tuỳ theo tình hình đặc điểm của địa phương và quy định của Luật thuế doanh thu, thuế lợi tức, cơ quan thuế địa phương trực tiếp quản lý tổ chức thu thuế lợi tức, theo hình thức kê khai hoặc hình thức khoán đối với trường hợp nộp thuế lợi tức khoán trên doanh thu. Cơ quan thuế căn cứ vào tài liệu điều tra có quyền ấn định lợi tức chịu thuế để tính số thuế lợi tức phải nộp cả năm và tạm thu hàng tháng, kể cả trường hợp tiền thuê nhà được thanh toán trước cho nhiều tháng, quý, năm. Thuế lợi tức nộp cùng với thuế doanh thu theo quy định của cơ quan thuế.
c) Trường hợp Bên cho thuê nhà được Bên thuê nhà trả tiền trước cho nhiều tháng, nhiều năm và đã nộp thuế theo quy định tại Thông tư này, nhưng vì lý do nào đó được quyền huỷ hợp đồng thuê nhà theo quy định khoản 4
Điều 15 của bản Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 56/CP ngày 18/9/1995 thì sẽ được cơ quan thuế xem xét hoàn trả số thuế đã nộp cho thời gian kể từ khi huỷ bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng nếu có đầy đủ hồ sơ chứng từ chứng minh.
4. Về quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước có cho người nước ngoài thuê. Đối với Quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước chuyển sang phương thức kinh doanh giao cho các Công ty chuyên kinh doanh nhà quản lý, theo quy định của Nghị định 61-CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ, nếu có cho người nước ngoài thuê thì toàn bộ số tiền thuê thu được sẽ được xác định là doanh thu của công ty, hoạt động này phải được hạch toán riêng và phải nộp thuế theo Luật định.
III. XỬ LÝ VI PHẠM
1- Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy chế cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê nhà tại Việt Nam thì bị xử lý theo quy định tại các
Điều 17, 18, 19, 20 và
Điều 21 của bản quy chế ban kèm theo Nghị định của Chính phủ số 56-CP ngày 18-9-1995.
2- Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nộp chậm tiền thuế, tiền phạt theo quy định thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế hoặc tiền phạt theo quy định, mỗi ngày nộp chậm bị phạt 0,2% theo Thông tư 45 TC/TCT ngày 1/8/1996 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành NĐ22/CP của Chính phủ.
Thủ trưởng cơ quan thuế được phạt nộp chậm đối với các đối tượng do cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế.
3- Mọi trường hợp thu tiền phạt phải sử dụng chứng từ thu do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) thống nhất phát hành.
4- Việc quản lý, sử dụng số tiền phạt thu được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế hiện hành.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Các cơ quan tổ chức và cá nhân đang cho người nước ngoài thuê lại nhà thuộc sở hữu Nhà nước, nếu có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền và có hợp đồng thuê nhà hợp lệ mà đến thời điểm 1/4/1996 chưa hết hạn, thì được tiếp tục cho thuê đến hết hạn hợp đồng, và được hưởng: 15% (đối với cơ quan, tổ chức), 20% (đối với cá nhân) giá trị hợp đồng thuê nhà hàng tháng kể từ ngày ban hành Nghị định số 56 CP. Số còn lại phải nộp toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
Mục 21 "Tiền thuê nhà, mặt đất, mặt nước", chương, loại, khoản, hạng tương ứng.