QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Về một số chủ trương, biện pháp điều hành kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003 của thành phố Đà Nẵng ỦY BAN NHÂN DÂN -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) các cấp ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một sô điều của Luật Ngân sách nhà nước; -
Căn cứ Quyết định số 181/2002/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ giao hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003; -
Căn cứ Nghị quyết số 27/2003/NQ-HĐ ngày 11 tháng 01 năm 2003 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VI, kỳ họp thứ 8 về nhiệm vụ năm 2003; -
Căn cứ Quyết định số 05/2003/QĐ-UB ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chủ tịch ủy ban Nhân dân thanh phố Đà Nẵng về việc giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán thu, ngân sách Nhà nước năm 2003; -
Căn cứ Quyết định số 150/2002/QĐ-UB ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về quy định một số vấn đề mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; -
Theo đề nghị của Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Tài chính-Vật giá và Chánh Văn phòng HĐND-UBND thành phố. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Phát triển sản xuất công nghiệp:
1. Tập trung khai thác và phát huy nội lực của các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển các ngành hàng chủ lực có nhiều tiềm năng, sản phẩm tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, ưu tiên sản phẩm xuất khẩu như dệt - may - giày, chế biến thủy sản, cao su, vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ khí, điện tử... Tiếp tục xây dựng và phát triển các ngành công nghệ cao như phần mềm, lắp ráp máy tính, tụ điện màng mỏng. Tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị cho các ngành sản xuất sản phẩm có lợi thế cạnh tranh trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư, tăng cường các biện pháp xúc tiến đầu tư, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp Liên Chiểu, Hòa Khánh, Đà Nẵng. Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Thọ Quang, KCN Hòa Cầm, phát triển mạnh mẽ các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các cụm công nghiệp dịch vụ nông thôn.
3. Đầu tư hoàn chỉnh các dự án dở dang đưa vào khai thác hiệu quả trong nãm 2003 như các công trình đầu tư của Công ty Cao su ĐN, Công ty Dệt may Hòa Thọ, Tổng Cty Xây dựng Miền trung, Công ty Dệt ĐN, Công ty Dệt may 29/3, Công ty Cơ khí ô tô và thiết bị điện ĐN, Công ty TNHH Matic, Công ty Keyhinge Toys... và chuẩn bị tốt các dự án mới đầu tư bằng nguồn tín dụng ưu đãi của nhà nước như Nhà máy Liên hiệp sợi - dệt - nhuộm (Vinatex), Nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu, Nhà máy đóng tàu, Nhà máy kính tấm, dự án nâng công suất lên 80.000 sản phẩm của Công ty Cao su ĐN, dự án sản xuất bao bì 25 triệu sản phẩm/năm của Công ty Xi măng VLXL và XLĐN...
4. Tập trung kiện toàn, củng cố DNNN, thực hiện các giải pháp lành mạnh tài chính doanh nghiệp đối vói các doanh nghiệp sáp nhập, giải thể... Triển khai thực hiện đề án “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển kinh tế tư nhân” và Đề án “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, hoàn chỉnh Đề án “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp DNNN” sau khi Thường vụ Thành ủy thông qua để trình Thủ tướng Chính phủ trong quí 1/2003. Khắc phục có hiệu quả sự chậm trễ trong việc thực hiện kế hoạch cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê DNNN đã xác định trong đề án. Xử lý dứt điểm các doanh nghiệp thua lỗ lớn, kéo dài, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DNNN cả về hoạt động sản xuất kinh doanh lẫn tài chính, nhân sự.
5. Làm tốt công tác hậu kiểm, sớm phát hiện những doanh nghiệp hoạt động trái pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, gian lận thương mại, lừa đảo... nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp ở mọi thành phố kinh tế cùng tồn tại và phát triển theo đúng Luật doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện tốt cơ chế, chính sách thu hút đầu tư của thành phố, giải quyết kịp thời các vấn đề sau cấp giấy phép đầu tư như đất đai, giải tỏa mặt bằng, tín dụng, công nghệ, chính sách thuế, lao động tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Điều 2
Về phát triển thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ và du lịch:
1. Triển khai thực hiện Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/4/2001 về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001 -2005.
2. Duy trì hoạt động của Câu lạc bộ Xuất khẩu 3 triệu USD, nâng cao hiệu quả khuyên khích xuất khẩu. Chủ động nắm bắt các nhu cầu của thị trường nước ngoài nhằm có chính sách và chiến lược xuất khẩu phù hợp, thông qua hội nghị, hội thảo, hội chợ triển lãm để vừa củng cố thị trường truyền thống, vừa mở rộng và phát triển các thị trường mới Trung Đông, Châu Phi và các nước Mỹ La tinh, khôi phục thị trường Nga và khối Đông Âu. Làm tốt công tác xúc tiến thương mại, quảng bá và tiếp thị sản phẩm nhằm nắm bắt các thông tin về thị trường thế giới và giới thiệu các bạn hàng tiềm năng cho doanh nghiệp thành phố. Chuẩn bị tốt diều kiện để gia nhập AFTA trên cơ sở nắm rõ điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp thành phố để nâng cao nâng sức cạnh tranh của hàng hóa, tránh sự thua thiệt kể cả trong thị trường nội địa.
3. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án Chiến lược xuất khẩu. Khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, chú trọng xây dựng nguồn hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu có khối lượng, giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh mạnh. Mở rộng các hình thức xuất khẩu như xuất trực tiếp, ủy thác, quá cảnh, tạm nhập tái xuất...tập trung vào các mặt hàng có thế mạnh hoặc tiềm năng phát triển như thủy sản, hàng dệt-may, thủ công mỹ nghệ, hàng điện tử, phần mềm tin học ứng dụng...
4. Tạo cơ chế tốt để từng bước mở rộng các hình thức và các lĩnh vực dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao như: tư vấn, tài chính và bảo hiểm. Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ điện, nước, bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, vận tải biển. Khẩn trương hoàn thiện việc mở rộng cảng Tiên Sa, trang bị hệ thống cầu tàu, kho bãi đủ tiếp nhận 3 triệu tấn hàng hóa qua cảng hàng năm. Sớm quy hoạch lại ga Đà Nẵng phục vụ tốt hơn cho công tác đi lại của nhân dân và vận tải hàng hóa bằng đường sắt.
5. Tiếp tục triển khai xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới các chợ theo quy hoạch, khai thác một cách triệt để và có hiệu quả Trung tâm Thương mại - Siêu thị Đà Nẵng, phát triển mạng lưới chợ ở nông thôn và miền núi. Xây dựng các chợ đầu mối hàng nông sản ở ngoại thành để tiêu thụ hàng hóa cho nông dân.
6. Tăng cường công tác quản lý thị trường để góp phần ngăn chặn các hành vi kinh doanh trái pháp luật, buôn lậu và gian lận thương mại, sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng.
7. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào công tác tư vấn, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa, chú trọng xuất khẩu hàng nông hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ...
8. Thực hiện
Chương trình hành động của UBND thành phố về đẩy mạnh phát triển du lịch thành .phố trong tình hình mới. Phát triển mạnh mẽ các loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, thực hiện các giải pháp cụ thể về huy động các nguồn lực trong dân và sự hỗ trợ của nhà nước về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng làng nghề. Quy hoạch, phát triển các điểm du lịch mới như Làng Vân, Bán đảo Sơn Trà, ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc... Giữ và phát triển việc đón khách bằng tàu biển. Tiếp tục hợp tác du lịch hàng khỏng để mở thêm các tuyến bay quốc tế trực tiếp đến sân bay Đà Nẵng từ các nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương.
Điều 3
Về phát triển thủy sản - nông - lâm:
1. Tiếp tục thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn; giảm dần tỷ trọng nông nghiệp thuần túy, tăng dần các ngành TTCN, dịch vụ ngành nghề trong nông nghiệp, tạo bước chuyển biến mới về cơ cấu sản xuất, đưa giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao vào sản xuất; áp dụng và đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào các địa phương để gieo trồng hàng nãm, chuyển diện tích lúa năng suất thấp sang trồng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp... có hiệu quả kinh tế.
2. Chú trọng nâng cao giá trị nông sản hàng hóa (rau sạch, hoa, cây ăn quả), xây dựng vành đai thực phẩm ở ngoại thành. Ưu tiên thực hiện các dự án trong quy hoạch, dự án phát triển chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - kinh tế nông thôn, phát triển chăn nuôi toàn diện, kết hợp giữa chăn nuôi truyền thống với chăn nuôi công nghiệp.
3. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ phát triển nghề cá như: khu công nghiệp dịch vụ và chế biến hải sản Thọ Quang, khu trú bão Thọ Quang, các công trình hạ tầng của dự án nuôi tôm công nghiệp Liên Chiểu, Hòa Liên, Hòa Quý nhằm di dời những nhà máy chế biến của các thành phần kinh tế vào một khu vực để thuận lợi trong công tác quản lý, tránh ô nhiễm môi trường.
4. Kiên quyết xử lý các cơ sở sản xuất không đủ tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh và chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao giá trị chất lượng sản phầm và đảm bảo uy tín cho sản phẩm xuất khẩu.
5. Đầu tư mở rộng và khai thác có hiệu quả cảng cá Thuận Phước, xây dựng Trung tâm giao dịch và chợ cá.
6. Về lâm nghiệp, đẩy mạnh giao đất, giao rừng gắn với định canh, định cư. Tranh thủ các nguồn vốn để thực hiện tăng dần vốn rừng, tăng độ che phủ, phát triển rừng phòng hộ kết hợp với bảo vệ rừng hiện có. Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng như cán bộ nhà nước tiếp tay cho lâm tặc một cách triệt để. Chú trọng việc phòng cháy, chữa cháy và công tác bảo vệ tài nguyên rừng và các loài động thực vật quý hiếm.
Điều 4 : Về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi:
1. Phân cấp thêm nguồn thu thuế tài nguyên và thu khác từ lĩnh vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh cho ngân sách cấp quận, huyện;
2. Phân cấp thêm cho UBND quân, huyện, phường, xã các nhiệm vụ chi sau:
2.1. Đối với cấp quận, huyện: Chi hoạt động của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị; chi xử lý môi trường các dự án nhỏ (bổ sung có mục tiêu cho ngân sách quận, huyện trên cơ sở dự án đã được Sở Khoa học Công nghệ và môi trường thẩm định, phê duyệt).
2.2. Đối với cấp phường, xã : Chi hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ; chi quản lý bảo vệ môi trường; chi thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư.
Điều 5
Công tác quản lý thu ngân sách:
1. Trên cơ sở dự toán ngân sách năm 2003 được UBND thành phố giao, các ngành, địa phương tiến hành phân giao dự toán tăng tối thiểu 5%. Số tăng thu của các địa phương được bố trí tăng thêm nguồn dự phòng cho ngân sách cấp mình.
2. Cơ quan Thuế, Hải quan thành phố củng cố lại tổ chức bộ máy, tăng cường công tác quản lý thu theo Luật định; phối hợp với Kho bạc Nhà nước hướng dẫn các đối tượng nộp thuế nộp trực tiếp các khoản thu vào Kho bạc Nhà nước. Các hộ kinh doanh nộp thuế khoán được thông báo thuế 1 lần vào đầu năm và ổn định trong năm.
3. Các khoản thu phí, lệ phí thực hiện theo Pháp lệnh Phí, lệ phí và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Riêng thu phí Quốc lộ 1A (đoạn Liên Chiểu - Hòa Cầm) tạm thời quản lý riêng để trả nợ vay đầu tư theo dự án đã được phê duyệt.
4. Không thu tiền xây dựng trường đối với học sinh bậc học tiểu học theo Nghị quyết số 23/2002/NQ-HĐND ngày 12/7/2002 của HĐND thành phố.
Điều 6
Công tác quản lý chi ngân sách:
1. Chi cải cách tiền lương thực hiện theo Nghị định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
2. Dự toán chi các ngành, đơn vị được phân bổ bằng 90% dự toán do UBND thành phố giao (sau khi trừ lương, phụ cấp và các khoản đóng góp), 10% tiết kiệm để dự phòng. Toàn bộ các khoản phát sinh đột xuất trong năm, đơn vị phải làm việc trước với cơ quan Tài chính để thống nhất sử dụng trong nguồn dự phòng; trường hợp đã sử dụng hết nguồn dự phòng mà nhiemẹ vụ cần thiết phải chi thì cơ quan Tài chính kiểm tra trình UBND cùng cấp xem xét, quyết định.
3. Định mức chi sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao cấp quận, huyện tính bằng 40% định mức chi quy định tại Thông tư số 38/TT/NSNN ngày 18/7/1996 của Bộ Tài chính; nâng mức chi sự nghiệp y tế từ 6 triệu đồng lên 8 triệu đồng/năm đối với phưòng và từ 8 triệu đồng lên 10 triệu đồng/nãm đối vói xã, yêu cầu UBND các phường, xã cân đối kinh phí hoạt động cho các Trạm y tế phường, xã không thấp hon định mức do thành phố bố trí; nâng mức chi mua thẻ BHYT cho người nghèo từ 31.000 đồng lên 50.000 đồng/thẻ.
4. Tăng thêm vốn đối ứng của Nhà nước và ổn định tỷ lệ đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tiếp tục bố trí kinh phí chi sự nghiệp kiến thiết thị chính cho một số phường của 5 quận và bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện Hòa Vang để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội tại các xã trung du, miền núi và thực hiện bê tông hóa giao thông thôn, xóm.
5. Công tác quản lý đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản thực hiện theo Quyết định 150/2002/QĐ-UB ngày 27/12/2002 của UBND thành phố. Giao trách nhiệm cho Sở Kế hoạch - Đầu tư phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá và Kho bạc Nhà nước thành phố tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch vốn đầu tư; đầu tháng 7/2003 và đầu tháng 10/2003 báo cáo tình hình thực hiện cho UBND thành phố để xin ý kiến Thưòng trực HĐND điều chỉnh kế hoạch vốn phù hợp với khối lượng hoàn thành của từng công trình. Việc cấp phát vốn đầu tư ngoài kế hoạch và tạm ứng vốn XDCB cho các chủ đầu tư, đơn vị thi công thực hiện đối với công trình trọng điểm của thành phố và khi ngân sách có nguồn vốn đảm bảo cân đối. Riêng đối với các công trình đầu tư từ nguồn ngân sách thành phố do UBND quận, huyện làm chủ đầu tư, cơ quan Tài chính thông báo hạn mức vốn đầu tư XDCB cho Kho bạc Nhà nước quận, huyện để kiểm soát thanh toán vốn cho công trình theo quy định; định kỳ hàng tháng, quý, năm KBNN quận, huyện có báo cáo tình hình giải ngân và thanh toán vốn đầu tư của các công trình này vối cơ quan tài chính.
6. Các khoản chi sự nghiệp kinh tế thực hiện theo Quyết định 59/2002/ỌĐ-UB ngày 06/5/2002 của UBND thành phố; kinh phí thực hiện các đề tài khoa học công nghệ thực hiện theo Quyết định 194/2001/QĐ-UB ngày 18/12/2001 của UBND thành phố.
7. Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường hơn nữa việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí về chi tiêu ngân sách Nhà nước; thực hiện nghiêm túc các chính sách, chế độ chi tiêu tài chính do Nhà nước quy định (chế độ hội nghị, sử dụng điện thoại, công tác phí, chế độ sử dụng xe ô tô...); không hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước để tổ chức các buổi gập mặt (trừ trường hợp đặc biệt do UBND thành phố quyết định).
8. Vốn đối ứng và chi phí tư vấn để tiếp nhận viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ được bố trí tập trung vào sự nghiệp kinh tế (trừ trường Trung học Kỹ thuật kinh tế). Các đơn vị, địa phương khi tiếp nhận viện trợ nếu có nhu cầu kinh phí đối ứng và tư vấn, phải lập báo cáo gửi Sở Tài chính - Vật giá xem xét, trình UBND thành phố quyết định bổ sung kinh phí. Vốn đối ứng chỉ được cấp phát khi vốn viện trợ đã được chuyển về (kể cả trường Trung học Kỹ thuật kinh tế).
9. Triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu đã ổn định về tổ chức và nguồn thu. Trên cơ sở dự toán thu, chi ngân sách năm 2003 được UBND thành phố giao, Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với cơ quan chủ quản phân loại đơn vị sự nghiệp có thu trình UBND thành phố quyết định giao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính.
10. Tiếp tục mở rộng thí điểm khoán biên chế và khoán chi hành chính đối với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Thương mại, Ban Tổ chức Chính quyền thành phố và quận Thanh Khê theo Quyết định 192/QĐ-TTg ngày 17/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
11. Thực hiện cấp phát trực tiếp hạn mức kinh phí cho Trung tâm Y tế và Đài Truyền thanh các quận, huyện.
12. Các Sở, ban, ngành, UBND các cấp, các đơn vị thụ hường ngân sách và các doanh nghiệp Nhà nước địa phương phải thực hiện công khai tài chính, ngân sách theo quy định của Nhà nước.
Điều 7
Công tác quản lý, điều hành ngân sách :
1. Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp của thành phố phối hợp với các Sở, ngành liên quan đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước trực thuộc thành phố quản lý, đồng thời áp dụng biện pháp hỗ trợ chênh lệch lãi suất cho các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh hàng xuất khẩu vay ngắn hạn tại các ngần hàng thương mại trong năm2003 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Sử dụng Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp để hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng, hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại, thực hiện cơ chế thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp địa phương quản lý thuộc các thành phần kinh tế làm ăn có hiệu quả, mở rộng thị trường nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu.
2. Về thưởng vượt thu và tiết kiệm chi:
a) Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu ngân sách, nếu có số thu vượt dự toán UBND thành phố giao thì được trích thưởng 5% (năm phần trăm) trên tổng số vượt (phần ngân sách địa phương được hưởng).
Cơ quan trực tiếp thu được hưởng 60%; Các ngành tham gia phối hợp được hưởng 40% (Tùy theo mức độ hỗ trợ, phối hợp với cơ quan trực tiếp thu đề xuất UBND thành phô duyệt mức thưởng, hỗ trợ cho từng ngành, từng cơ quan cụ thể). Mức trích thưởng vượt dự toán thu tính bình quân không quá 3 triệu đồng/1 cán bộ/1 năm. Trong đó, riêng tiền thưởng cho cá nhân không quá 200.000 đồng/người/tháng.
b) Đối với các đơn vị sự nghiệp kinh tế nếu có số thu vượt dự toán UBND thành phố giao thì được trích thưởng 10% (mười phần trăm) trên tổng số thu vượt (phần ngân sách địa phương được hưởng) để bổ sung kinh phí nghiệp vụ, chi mua sắm tài sản phục vụ công tác, chi động viên khen thưởng và chi hỗ trợ cho các đơn vị phối hợp trong công tác thu ngân sách. Riêng khoản thu về bán nhà và khai thác quỹ đất thực hiện theo quy định của UBND thành phố.
c) Đối với các quận, huyên nếu có số thu vượt dự toán UBND thành phố giao được trích thưởng 50% (nãm mươi phần trăm) trên tổng số thu vượt nộp ngân sách thành phố (phần ngân sách thành phố được hưởng). Tiền trích thưởng được sử dụng để bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi hỗ trợ công tác thu, chi động viên khen thưởng và hỗ trợ cho các đơn vị tham gia phối hợp trong công tác thu ngân sách, chi thưởng lại cho phường, xã có số thu vượt.
Đồng thời điều chỉnh lại cơ chế thưởng trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB như sau: Nếu các cơ quan thẩm tra, phê duyệt phát hiện sai sót trong quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành có chênh lệch giảm so với giá trị quyết toán đã đề nghị từ 3% trở lên thì được trích thưởng 10% trên tổng số sai sót phát hiện được. Nguồn kinh phí để trích thưởng:
Nếu cơ quan thẩm tra kiểm tra phát hiện sai sót trong báo cáo quyết toán vốn đầu tư thì trích chi phí quản lý dự án của chủ đầu tư (BQL) để thưởng cho cơ quan tham tra.
Nếu cơ quan phê duyệt kiểm tra phát hiện sai sót trong báo cáo quyết toán vốn đầu tư đã được thẩm tra thì trích chi phí thẩm tra quyết toán của cơ quan thẩm tra để thưởng cho cơ quan phê duyệt.
3. Số vượt thu phí tham quan danh thắng Ngũ Hành Sơn nộp vào ngân sách thành phố được cấp lại 100% cho ngân sách quận để đầu tư phát triển danh thắng; UBND quận có trách nhiệm lập danh mục đầu tư báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện.
4. Tiếp tục cấp lại 100% tiền sử dụng đất và thuế chuyển quyền sử dụng đất trong các khu dân cư nông thôn cho huyện Hòa Vang để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Toàn bộ nguồn thu khai thác quỹ đất của các dự án do thành phố quản lý nộp 100% vào ngân sách thành phố. Việc cấp hỗ trợ lại cho ngân sách phường, xã Sở TCVG làm việc với các ngành liên quan đề xuất UBND thành phố xem xét, xử lý cho từng dự án cụ thể.
5. Điều kiện và nguyên tắc xét thưởng: Số thu vượt phải do yếu tố tác động chủ quan của cơ quan thu và chính quyền địa phương, chỉ tính xét thưởng trên những khoản thu vượt nộp cho ngân sách thành phố, các khoản thu đã được trích thưởng theo quy định thì không xét thưởng, số vượt dự toán thu để tính xét thưởng là số chênh lệch giữa những khoản thu vượt và những khoản hụt dự toán thu, số thu được tính xét thưởng là số thực nộp ngân sách thành phố đến ngày 31/12/2003.
Chậm nhất là ngày 20/01 năm sau, các cơ quan thu, UBND các quận, huyện, đơn vị có số thu vượt dự toán và thực hiện tiết kiệm chi ngân sách phải lập báo cáo giải trình cụ thể từng khoản tăng thu (có xác nhận của Kho bạc Nhà nước), tiết kiệm chi gửi Sở Tài chính - Vật giá kiểm tra, tổng hợp đề xuất UBND thành phố quyết định.
Điều 8
Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế:
1. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở nhanh chóng tận dụng những cơ hội, ưu điểm nổi bật mà thành phố đang có; trong công tác đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chú trọng đổi mới cơ chế xúc tiến đầu tư, xây dựng hệ thống quản lý thông tin, dữ liệu một cách có chiều sâu, gắn kết công tác xúc tiến với việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư, chủ động nắm bắt được ý định, các yêu cầu của nhà đầu tư, kịp thời cung cấp các thông tin một cách chính xác về thị trường, sức mua, về phân phối, giá thuê đất, các chính sách ưu đãi của thành phố... tạo thế chủ động để đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1. Cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, trong đó cần đề ra các chính sách ưu đãi một cách hợp lý, tạo cơ chê thông thoáng hơn cho nhà đầu tư; đẩy mạnh công tác tư vấn đầu tư, tư vấn giới thiệu nguồn nhân lực...tạo cho nhà đầu tư thấy được tính hiệu quả khi đầu tư vào thành phố, tạo sự hấp dẫn cho nhà đầu tư.
1.2. Đổi mới thủ tục cấp giấy phép dầu tư, ngoài các dự án thuộc nhóm A do Chính phủ quyết định như xây dựng quốc lộ, sản xuất ciment, luyện kim, diện, sản xuất rượu, bia, thuốc lá... các dự án khác khi đầu tư vào các KCN hoặc ngoài KCN nhưng địa điểm đã phù hợp vói quy hoạch, không gây ảnh hưởng lớn đến môi trường thì nhà đầu tư chỉ cần đăng ký hổ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư là đủ.
1.3. Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đầu tư; đào tạo công nhân lành nghề đáp ứng nhu cầu lao động; lậo các dự án cơ hội, gọi vốn vào các ngành, lĩnh vực mà thành phố đang cần. Thực hiện tốt sự phân cấp của Chính phủ về cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.
2. Phát huy nguồn lực trong nước tạo môi trường hấp dẫn để tranh thủ các nguồn hỗ trợ phát triển (ODA); mặt khác tăng cường công tác vận động nhằm thu hút nguồn vốn ODA; tích cực thúc đẩy giải ngân, nhất là những dự án lớn như dự án Cảng Tiên Sa, đường Ngô Quyền, dự án thoát nước vệ sinh môi trường...
3. Tăng cường vận động nguồn viện trợ phi Chính phủ (NGO), huy động các tổ chức, cá nhân nước ngoài hỗ trợ bằng vốn, thiết bị vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giúp đỡ người nghèo...
Điều 9
Phát huy nhân tố con người, vai trò động lực của khoa học, công nghệ, chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc:
1. Coi phát triển nguồn nhân lực vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển KT-XH. Chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động quản lý, lao động kỹ thuật trong các ngành, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ vào trong sản xuất. Cơ cấu lại hệ thống giáo dục, đào tạo tại thành phố, tập trung đào tạo nghề cho các ngành điện, điện tử, tin học, cơ khí, chế tạo... Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút và đãi ngộ để sử dụng có hiệu quả lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật của thành phố và thu hút sự đóng góp của những nhà khoa học dầu đàn của các ngành Trung ương và các tỉnh, thành trong cả nước. Đổi mói cơ chế đầu tư và quản lý khoa học và công nghệ, huy động mọi nguổn vốn trong nước và ngoài nước để phát huy tiềm năng và tăng tác dụng của khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống.
2. Tổ chức thực hiện Đề án về phát triển Khoa học công nghệ đến năm 2010. Xây dựng Trung tâm Công nghệ phần mềm (cơ sở II). Đẩy mạnh chương trình phát triển công nghệ thông tin bao gồm việc thực hiện đề án tin học hóa quản lý nhà nước, sản xuất phần mềm, đào tạo nhân lực và tăng dung lượng đường truyền internet.
3. Ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất và kinh doanh. Chú trọng tổng kết, phổ biến, nhân rộng những mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn thành phố.
4. Tiến hành lồng ghép kế hoạch bảo vệ môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Ban hành các qui định hướng dẫn thực hiện Luật Môi trường, đặc biệt là những qui định cụ thể về kỹ thuật, các loại chất phế thải và rác thải. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân.
Điều 10
Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư:
1. Tiếp tục xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ và đầu tư phát triển sản xuất, trong đó chú trọng các công trình trọng điểm chuyển tiếp để tập trung đầu tư vốn đẩy nhanh tiến độ hoàn thành như đường Liên Chiểu - Thuận Phước, đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc (giai đoạn I); mở rộng đường Bạch Đằng Tây; xây dựng đường Nguyễn Tri Phương nối dài, đường Trường Sa, đường Ngô Quyền, Ngũ Hành Sơn, cầu Yuyên Sơn, cầu Thuận Phước, khu công nghiệp dịch vụ thủy sản và Âu thuyền Thọ Quang, bệnh viện 600 giường, cơ sở xử lý nước thải, Bể bơi thành tích cao, Trung tâm Huấn luyện bóng đá, hạ tầng các khu công nghiệp Hòa Khánh mở rộng, Liên Chiểu, Hòa Cầm; nâng cấp mở rộng Sân vận động Chi Lăng; cải tạo nhà hát Trưng Vương; mở rộng Nhà máy nước; xây dựng và nâng cấp mạng lưới điện và nước sạch; xây dựng một số đường từ trung tâm thành phố đi các vùng lân cận; hoàn chỉnh các trục đường giao thông nông thôn; Xây dựng trường PT chất lượng cao, nâng cấp mở rộng trường THPT Phan Châu Trinh; tiếp tục hoàn chỉnh các điểm sinh hoạt văn hóa - vui chơi quận, huyện, phường, xã; mở rộng Nhà Văn hóa Thiếu nhi, nâng cấp Trung tâm thông tin và một số công trình về y tế, giáo dục....
2. Đối với các công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh chủ yếu được đáp ứng bằng vốn bay kịp thời cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tín dụng, đảm bảo khối lượng tín dụng tăng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế. Đặc biệt tranh thủ chính sách hỗ trợ phát triển của nhà nước thông qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển, Quỹ Hỗ trợ doanh nghiệp để tăng nhanh lượng vốn cho vay đầu tư phát triển trên địa bàn.
3. Vốn ngân sách và vốn tín dụng được ưu tiên bố trí cho các công trình trọng điểm, công trình cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất, các công trình văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học và môi trường. Trong năm 2003 chỉ bố trí cho các công trình mới quan trọng, để hưởng được các ưu đãi đầu tư của nhà nước qua kênh Quỹ Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp phải hoàn chỉnh mọi thủ tục liên quan của các dự án khả thi. Đồng thời phải tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay để đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng xuất khẩu.
4. Tiếp tục vận động các tổ chức, cá nhân thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Khai thác quỹ đất trong xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, chú trọng giải quyết hợp lý chính sách bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, nhất là các đối tượng thuộc diện sản xuất nông nghiệp.
Điều 11
Phát triển văn hóa - xã hội:
1. Tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2). Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy, duy trì kết quả phổ cập tiểu học, phổ cập THCS và xóa mù chữ 100%. Hoàn thành phổ cập THCS ở xã Hòa Bắc để có 47/47 xã, phường đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS. Chấn chỉnh việc dạy thêm tràn lang ở các trường phổ thông. Khuyến khích xã hội hóa đi đôi với tăng cường quản lý trong giáo dục - đạo tạo.
2. Dự kiến năm 2003, tuyển mới để đào tạo hệ trung học chuyên nghiệp tại các trường THCN của thành phố cho phù hợp với mục tiêu phát triển trong tương lai. Đào tạo bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực đồng bộ và chất lượng cao là yếu tố hàng đầu trong việc thực hiện Cồng nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển kinh tế của thành phô. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh doanh, quản lý và đội ngũ công nhân lao động có tay nghề. Trước mắt chú ý đào tạo cho các ngành nghề mà thành phố có nhu cầu như: công nghiệp, du lịch, kinh tế đối ngoại, thương mại, ngân hàng, điện tử và tin học. Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên lực lượng lao động hiện đang làm việc để thích ứng với yêu cầu mới, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng đúng ngành nghề đào tạo.
3. Đẩy mạnh các hoạt động y tế dự phòng, làm tốt công tác quản lý, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là ở các xã nghèo để từng bước đảm bảo công bằng trong khám chữa bệnh. Đầu tư các trang thiết bị hiện đại cho các bệnh viện thuộc tuyến thành phố, các quận, huyện của thành phố. Tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế theo hướng cho phép các tổ chức có đủ điều kiện được mở bệnh viện tư hoặc phòng khám chữa bệnh với thủ tục đơn giản và hợp lý, đồng thời ban hành những quy định kiểm tra giám sát chặt chẽ đảm bảo quyền lợi của người bệnh nhưng không gây phiền hà cho những cơ sở khám chữa bệnh. Tăng cường công tác giáo dục vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm.
4. Tiếp tục triển khai chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản và chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng, giảm tỷ suất sinh là 0,5%o, làm tốt công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, đặc biệt là trẻ em khuyết tật, mồ côi, phấn đấu giảm 2% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng trong toàn thành phố.
5. Lồng ghép chương trình xóa đói giảm nghèo với cho vay vốn giải quyết việc làm và các chương trình mục tiêu khác nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 2,16% (giảm 2.100 hộ) trên toàn thành phố.
6. Thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập... Tích cực tuyên truyền vận động toàn dân tham gia thực hiện Kế hoạch “5 không”. Triển khai đề án Phòng chống ma túy đã được HĐND thành phố thông qua, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, triệt để các hành vi phạm tội về ma túy; quản lý, kiểm soát chặt chẽ dược phẩm có chất gây nghiện, các tiền chất ma túy và không để sản xuất ma túy trái phép; nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện và quản lý, giải quyết tốt các vấn đề xã hội sau cai nghiện. Phát triển mạnh mẽ phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới”.
7. Chú trọng công tác giáo dục cộng đồng trong việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, quan tâm giúp đỡ những người đã bịnhiễm HIV/AIDS nhằm tạo cho họ cuộc sống bình thường, hòa nhập với cộng đồng.
8. Giải quyết các chế dộ bảo trợ xã hội đối với các đối tượng cực nghèo và khó khăn đột xuất trên địa bàn thành phố như đảm bảo cung ứng bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, hỗ trợ giải quyết nhà tạm... tiếp tục tập trung các đối tượng lang thang cơ nhỡ để thành phố không có người lang thang ăn xin.
9. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng và phát triển nển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng một số cụm dân cư văn hóa xã, các làng văn hóa, các khu vui chơi, giải trí nhằm nâng cao nếp sống văn hóa đô thị.
10. Triển khai chương trình quốc gia về thể dục thể thao. Đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chuẩn bị tốt các điều kiện, xây dựng cơ sở vật chất và tuyển chọn lực lượng vận động viên tài năng đạt thành tích cao để góp phần tham gia Seagames 22 vào năm 2003 tại Việt Nam, tập trung chỉ đạo để đội bóng đá thành phố có thứ hạng cao trong giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia năm 2003.
11. Nghiêm chỉnh chấp hành Chỉ thị số 22/2002/CT-UB của UBND thành phố về tập trung thực hiện một số biện pháp cấp bách nhằm hạn chế tai nạn giao thông và lập lại vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố. Tổ chức thực hiện Quỹ định mới về việc quản lý, sử dụng vỉa hè; nghiêm cấm việc lấn chiếm vỉa hè trên tất cả các tuyến đường (trừ một số vị trí được phép sử dụng theo quy định của UBND thành phố), kiên quyết giải tỏa các hộ kinh doanh, dịch vụ ở vỉa hè trưóe các trường học, công sở, các chợ, bệnh viện, trung tâm y tế.
Điều 12
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính - Tiếp tục đổi mới bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn va hiệu quả:
1. Tiếp tục cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý và đổi mới tổ chức bộ máy là giải pháp cơ bản nhất để thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đã đề ra:
2. Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phối hợp chặt chẽ hoạt động giữa các cơ quan trong khối nội chính trong công tác điều tra, truy tố, xét xử thi hành án, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật.
3. Thực hiện việc tách các cơ quan sự nghiệp ra khỏi bộ máy hành chính nhà nước. Mở rộng việc thực hiện chế độ khoán biên chế và khoán kinh phí hành chính cho các cơ quan hành chính; thực hiện hạch toán đầy đủ mọi nguồn thu và chi đối với tất các cơ quan sự nghiệp;
4. Tiếp tục thực hiện chế độ “một cửa” trong các cơ quan quản lý Nhà nưốc của thành phố, giảm hội họp, giảm thủ tục giấy tờ hành chính. Nâng cao chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành.
5. Tăng cường việc thực hiện những quy định cụ thể của thành phố về việc triển khai thực hiện nội dung 3 pháp lệnh: chống tham nhũng, cán bộ công chức, thực hành tiết kiệm chống lãng phí.
6. Thực hiện phương án tổ chức bồ máy cán bộ ở các xã, phường trên địa bàn thành phố theo tinh thẩn Nghị quyết TW 5. Củng cố tâng cường hoạt dộng của các tổ dân phố, khối phố, thôn trên địa bàn.
7. Nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện tốt Chỉ thị của UBND thành phố về tổ chức lễ đón nhận các hình thúc khen thường và kỷ niệm ngày thành lập ngành, dịa phương, đơn vị trên địa bàn thành phố.
8. Tiếp tục quy hoạch, đào tạp, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế và thực hiện luân chuển cán bộ. Tiến hành rà soát, phân tích, đánh giá phân loại năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trên địa bàn thành phố để có kế hoạch bố trí cho phù họp nhu cầu chung. Có chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ dự nguồn.
Điều 13
Về an ninh quốc phòng:
1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân thực sự vững mạnh có đủ khả năng làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động diễn biến hòa bình, bạo loạn của các thế lực thù địch dưới mọi hình thức. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh trong qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
2. Tiếp tục bảo đảm an ninh trật tự và an toàn toàn xã hội trong mọi tình huống.
3. Tuyển chọn thanh niên nhập ngũ đủ số lượng và chất lượng cao, đảm bảo tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 2% dân số, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực chính trị, phát huy nguồn lực sẵn sàng chiến đấu cao.
Điều 14
Về việc giao chỉ tiêu kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch năm 2003:
Trong vòng 20 ngày sau khi nhận được chỉ tiêu giao kế hoạch năm 2003 của UBND TPĐN, các Sở, Ban, ngành, quận, huyện triển khai giao kế hoạch cho đơn vị cơ sở. Các chủ đầu tư phải làm xong công tác chuẩn bị đầu tư chậm nhất đầu quý II năm 2003. Các ngành, các cấp cần phát động phong trào thi đua hoàn thành nhiệm vụ và chỉ tiêu được giao.
Về điều hành kế hoạch: Tiếp tục duy trì chế độ giao ban báo cáo tình hình và gửi báo cáo (bằng vãn bản) của đơn vị, ngành, địa phương vào ngày 18 hàng tháng để Văn phòng HĐND và UBND thành phố phối hợp với Sở KH và ĐT nắm tình hình thực hiện các kết luận của UBND thành phố Đà Nẵng trong đợt giao ban trước và phản ánh trong giao ban với lãnh đạo UBND thành phố để giải quyết kịp thời những vướng mắc.
Điều 15
Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc UBND thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký./.